|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 235/2025/HS-ST Ngày: 16 – 12 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kim Ngân;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
– Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 252/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phan Văn P, sinh năm 1990 tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: Công nhân; CCCD số: 08409000956; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S và bà Phạm Thị H; bị cáo có vợ tên Lê Thị Thanh H1; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024 đến nay.
- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã N, Thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: Công nhân; CCCD số: [...]; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị H2; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Trương Thị T và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2024 đến ngày 12/12/2025 bị bắt, tạm giam đến nay.
- Trương Văn D, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Buôn bán; CCCD số: [...]; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H3 và bà Đỗ Thị Thu H4; bị cáo có vợ tên Trần Thị Thu S1 và 01 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/06/2011 bị Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại Trường G về hành vi gây rối trật tự công cộng, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 26/4/2013; bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024 đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Nguyễn Gia H5, sinh năm 2005; nơi cư trú: C, phường A, Quận F (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Lê Thanh C, sinh năm 1953; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã V, tỉnh Đồng Tháp) – đã chết. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông C: Ông Lê Văn S2, sinh năm 1953; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã V, tỉnh Đồng Tháp). Vắng mặt.
Người làm chứng: Phan Văn K, Trần Do L, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị Ngọc H6. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, Phan Văn P cùng Nguyễn Văn Đ ngồi ăn uống trước cơ sở trọ địa chỉ E, đường D thuộc khu dân cư T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì xảy ra mâu thuẫn với Lê Thanh C là quản lý của cơ sở trọ nêu trên. Sau đó, C gọi điện thoại cho Trần Do L qua nhà trọ của C. L rủ thêm Trương Văn D và Nguyễn Gia H5 là bạn của L cùng đến nhà trọ gặp C. Khi L, D, H5 đến thì cùng với C đi qua nói chuyện với nhóm của P tại nhà trọ.
Trong lúc 02 bên đang đứng nói chuyện với nhau thì C và Đ dùng tay xô đẩy qua lại, L dùng tay đấm 01 cái vào người Điều. P và Đ chạy vào nhà trọ gần đó, P lấy 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại màu đen cán dao bằng gỗ), còn Đ cầm lấy 01 con dao bằng kim loại màu trắng cùng nhau chạy ra cổng dãy trọ đuổi chém nhóm của C. Lúc này H5 bỏ chạy bị té ngã xuống đường thì bị Điều cầm dao chém trúng đầu 01 nhát, H5 vùng dậy bỏ chạy thoát. P và Đ cầm dao rượt đuổi C chạy vào trong một kiot kế bên rồi C chạy ra ngoài bị vấp té ngã trên lề đường thì bị P cầm dao đâm 02 nhát trúng vào lưng của C, sau đó C bỏ chạy thoát. Sau đó, D chạy vào nhà trọ gần đó lấy một con dao chạy ra ngoài đường chém nhau với P và Đ cũng đang cầm dao. D cầm dao vung lên chém qua chém lại với P và Đ nhưng không trúng và không gây thương tích cho ai rồi tất cả bỏ chạy. Ngoài ra, trong lúc Điều cầm dao và P cầm dao đuổi theo C thì Đ chạy phía sau và sát bên P nên bị dao của P đang cầm đâm trúng hông trái của Đ 01 nhát bị thương tích. Sau khi sự việc xảy ra, Lê Thanh C, Nguyễn Gia H5 và Nguyễn Văn Đ được người thân đưa đến Bệnh viện để cấp cứu và điều trị thương tích.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 05/2025/KLGĐ-TTPY ngày 02/01/2025 của Trung tâm P1 - Sở y tế tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 57% (năm mươi bảy phần trăm).
Trong quá trình điều tra, Lê Thanh C đã tử vong do bệnh lý. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên hồ sơ số 180 ngày 11/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh P1 (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thanh C qua giám định trên hồ sơ là 11% (mười một phần trăm).
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dao băng kim loại có lưỡi bầu màu trắng dài 33 cm; 01 dao bằng kim loại màu đen dài 33 cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ và 01 dao bằng kim loại màu đen dài 41 cm là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Trách nhiệm dân sự trong vụ án: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Gia H5, Nguyên Văn Đ2 không yêu cầu bồi thường; Lê Thanh C đã chết do bệnh lý, người đại diện hợp pháp của ông C không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.
Cáo trạng số: 98/CT-VKS-TA ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Văn P, Nguyễn Văn Đ có lý lịch nêu trên đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Trương Văn D có lý lịch nêu trên đã phạm vào tội Gây rối trật tự cộng cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
- + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 55, 58, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn P mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; xử phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 năm đến 05 năm tù.
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 55, 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; xử phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 năm đến 05 năm tù.
- + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn D mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dao băng kim loại có lưỡi bầu màu trắng dài 33 cm; 01 dao bằng kim loại màu đen dài 33 cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ và 01 dao bằng kim loại màu đen dài 41 cm là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Gia H5, Nguyễn Văn Đ không yêu cầu bồi thường; Lê Thanh C đã chết do bệnh lý, người đại diện hợp pháp của ông C không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng. Thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, tại đoạn đường trước cơ sở trọ địa chỉ E, đường D thuộc khu dân cư T, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), Phan Văn P, Nguyễn Văn Đ và Trương Văn D đã có hành vi cầm dao đuổi chém nhau. Ngoài ra, Phan Văn P và Nguyễn Văn Đ còn có hành vi cầm dao đuổi, đâm Lê Thanh C gây thương tích 11%. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, các bị cáo Phan Văn P, Nguyễn Văn Đ và Trương Văn D là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
[2.2] Hành vi của các bị cáo Phan Văn P và Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2.3] Hành vi của bị cáo Trương Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2.4] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và có ý thức cải tạo, sửa đổi thành công dân tốt.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công cụ thể giữa các bị cáo. Các bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[6] Quá trình điều tra, Nguyễn Gia H5, Nguyễn Văn Đ không yêu cầu bồi thường; Người đại diện hợp pháp của ông C không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 dao băng kim loại có lưỡi bầu màu trắng dài 33 cm; 01 dao bằng kim loại màu đen dài 33 cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ và 01 dao bằng kim loại màu đen dài 41 cm là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với Trần Do L, quá trình điều tra chưa làm việc được với L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H sẽ tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
[9] Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 05/2025/KLGĐ-TTPY ngày 02/01/2025 của Trung tâm P1 - Sở y tế tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 57% (năm mươi bảy phần trăm). Nguyễn Văn Đ đã có đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của Phan Văn P về tội “Vô ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hành vi trên là có căn cứ.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phan Văn P và Nguyễn Văn Đ;
- - Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Văn D;
- - Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố các bị cáo Phan Văn P, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Tuyên bố bị cáo Trương Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Xử phạt bị cáo Phan Văn P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2025.
- - Xử phạt bị cáo Trương Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại có lưỡi bầu màu trắng dài 33 cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 33 cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ và 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 41 cm.
- Về án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 235/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự
- Số bản án: 235/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
