Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HS-PT

Ngày 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Long

Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Trần Hữu Vinh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na - Thư ký TAND TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLHS-PT ngày 8 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Anh T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại Hà Thị T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2024/QĐXX – HSPT ngày 29 tháng 10 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 182/2024/TB-TA ngày 11 tháng 11 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Anh T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1980; nơi ĐKTT: 35C Ngõ B N, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: P tòa nhà A, Khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng T2 (c) và bà Nguyễn Thị L; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba; vợ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1981, có 02 người con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

* Bị hại có kháng cáo: Bà Hà Thị T1, sinh năm 1958; địa chỉ: K N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì có quen biết với một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch nên Hoàng Anh T có được bản vẽ thiết kế, dự toán phần ép cọc của công trình xây dựng khách sạn, căn hộ thuộc công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp H”, phường H, quận N. Công trình này được Sở Xây dựng thành phố Đ cấp giấy phép xây dựng cho Công ty Cổ phần D (địa chỉ: H N, phường H, quận H, TP Đà Nẵng). Theo đó, Công ty Cổ phần D được phép xây dựng đối với công trình cấp III gồm Villa, B, Nhà hàng, Bar biển, Hồ cánh quan, hồ bơi theo giấy phép xây dựng số: 2491/GPXD ngày 22 tháng 12 năm 2017 và được phép xây dựng đối với công trình dân dụng cấp I gồm khách sạn – Căn hộ du lịch theo giấy phép xây dựng số 210/GPXD ngày 30/01/2018. Do trước đó có quan hệ quen biết (thông qua bạn bè giới thiệu) với Nguyễn Văn H (Sinh năm 1984, HKTT: thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương) nên sau khi có hồ sơ thiết kế của phần ép cọc của công trình xây dựng khách sạn, căn hộ thuộc công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C”, T đã liên hệ với H và đặt vấn đề nói H tìm kiếm nhà thầu xây dựng để tham gia đấu thầu thi công phần móng của block 1 (khu khách sạn – căn hộ) công trình trên, nếu liên hệ tìm kiếm được nhà thầu thì T và H sẽ vào gặp trao đổi cụ thể với các nội dung gồm: Đi xem mặt bằng, gặp người bên ban quản lý dự án, thống nhất thi đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng để lo lót, bao trúng được gói thầu xây dựng trên khi nộp hồ sơ năng lực của công ty vào ban quản lý dự án, các trung gian giới thiệu sẽ được hưởng lợi 0,5% giá trị gói thầu từ công ty dự thầu nếu trúng thầu, nếu không trúng thầu thì trả lại tiền cho công ty. Do đó, đầu tháng 3/2018, thông qua ông Nguyễn Văn T4 (trú tại Hà Nội) giới thiệu, Nguyễn Văn H đã liên hệ qua điện thoại với bà Hà Thị T1 (Sinh năm 1958; Trú: K N, phường A, quận S) đưa thông tin tìm kiếm nhà thầu đối với công trình trên theo như những thông tin T đã cung cấp. Do đã từng công tác trong ngành xây dựng nên bà T1 có tìm hiểu về công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C” thì được biết công trình này có thật nên bà T1 có đăng tin tìm nhà thầu. Sau khi nhận được thông tin từ bà T1, ông Tống Viết T5 (Sinh năm 1973; Trú: 123 Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) đến gặp bà T1 để thoả thuận việc đấu thầu. Sau đó, ông T5 giới thiệu Công ty TNHH X1 (địa chỉ: địa chỉ tầng B, tòa nhà C, số C Ngõ F phố L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Khắc S; sinh năm: 1951; HKTT: Số nhà A, ngõ P, tổ H, phường K, quận Đ, TP Hà Nội) để tham gia dự thầu. Sau khi có được hồ sơ năng lực của Công ty này qua mail, bà T1 chuyển mail đến cho Hoàng Anh T để T xem xét hồ sơ. Sau khi T trả lời hồ sơ năng lực của Công ty TNHH X1 đạt điều kiện dự thầu thì ngày 13/3/2018, Hoàng Anh T và Nguyễn Văn H bay vào Đà Nẵng để gặp bà T1, ông T5 và đại diện Công ty TNHH X1. Sau khi gặp nhau, T dẫn bà T1, ông T5 và đại diện Công ty TNHH X1 đi đến công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C” để xem thực tế. Vì tin tưởng công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C" là có thật, thi công sẽ có lợi nhuận nên ngày 14/3/2018, Tống Viết T5 đã giao cho bà T1 số tiền 130.000.000 đồng để đưa cho T lo lót việc đấu thầu của Công ty TNHH X1, bà T1 tự bỏ thêm 70.000.000 đồng nhằm mục đích góp vốn với T5. Đến trưa ngày 14/3/2018, bà T1 đến nhà nghỉ N (B N, quận S) và giao cho Hoàng Anh T số tiền 200.000.000 đồng để T lo lót thắng thầu thi công phần móng của block 1 (khu khách sạn - căn hộ) công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C", việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của Nguyễn Văn H.

Sau khi nhận tiền của bà T1, T và H quay về Hà Nội. Từ ngày 21/3 đến ngày 25/3/2018, Trung liên lạc với bà T1 để giới thiệu tiếp phần thi công block 2 (khu thấp tầng – khách sạn), hối thúc bà T1 tìm nhà thầu và đưa cho T số tiền 200.000.000 đồng để được nhanh trúng thầu. Bà T1 đã liên hệ với Nguyễn Thanh T6 (Sinh ngày 15/10/1984; Trú: 20 B, quận H, thành phố Đà Nẵng) để đưa thông tin phần thi công block 2 (khu thấp tầng khách sạn) công trình "khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C" mà T đã cung cấp cho bà T1 cho T6. Sau đó T6 có gửi cho bà T1 hồ sơ năng lực của Công ty TNHH MTV X2 (địa chỉ B N, N, quận H, Đà Nẵng, người đại diện theo pháp luật: Lê Văn X, sinh năm 1972) qua mail, bà T1 chuyển tiếp qua cho T. Trung xem hồ sơ rồi báo công ty này đủ điều kiện dự thầu và yêu cầu bà T1 chuyển tiền. Về phía bà T1, qua thoả thuận với T6, vì được hưởng hoa hồng khi nộp các hồ sơ năng lực được duyệt trúng thầu đối với dự án xây dựng Hoàng C và vì Công ty TNHH MTV X2 không đồng ý bỏ tiền trước để lo lót hồ sơ nên bà T1 đã nói T6 tìm nguồn tiền để bà T1 đưa cho ông T lo lót hồ sơ dự thầu, nếu sau này trúng thầu sẽ trừ số tiền này với công ty T8. T6 đã đồng ý và đưa cho bà T1 số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, bà T1 đã chuyển khoản cho Hoàng Anh T 03 lần với tổng số tiền 200.000.000 đồng, cụ thể như sau:

- Ngày 22/3/2018, bà T1 đến Ngân hàng B1 chi nhánh Đ (số I N, phường H, quận H, TP Đà Nẵng) chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng đến số tài khoản 11810001339999, Ngân hàng B1 của Hoàng Anh T.

- Ngày 25/3/2018, bà T1 đến cửa hàng G1 (số I H, phường H, quận H, TP Đà Nẵng) và nộp tổng số tiền 100.000.000 đồng (chia làm hai lần, mỗi lần 50.000.000 đồng) vào số điện thoại đăng ký dịch vụ bankplus 84932565568 của Hoàng Anh T.

- Ngày 31/3/2018, bà T1 đến cửa hàng G1 (số F N, phường A, quận S, TP Đà Nẵng) và nộp số tiền 50.000.000 đồng vào số điện thoại đăng ký dịch vụ bankplus 84932565568 của Hoàng Anh T.

Sau khi nhận tiền từ bà T1 (tiền mặt 200.000.000 đồng và tiền chuyển khoản 200.000.000 đồng) nhằm mục đích lo lót hồ sơ cho Công ty TNHH MTV X1 và Công ty TNHH MTV X2 trúng thầu, T không thực hiện việc lo lót như đã hứa hẹn, T không nộp hồ sơ năng lực cho hai công ty trên vào dự thầu, đồng thời, T cũng không có quen biết với bất kỳ ai trong ban quản lý dự án công trình “khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C” để thực hiện việc lo lót trúng thầu như thông tin T đã đưa ra. Về phía bà T1, sau nhiều tháng thấy không có kết quả trúng thầu của hai công ty trên, ông T5 và ông T6 yêu cầu bà T1 trả tiền thì bà T1 đã tự trả số tiền 130.000.000 đồng cho ông T5 vào các ngày 17, 19/9/2018, trả số tiền 200.000.000 đồng cho ông T6 vào ngày 10/12/2018 (có giấy xác nhận giao nhận tiền). Đến ngày 02/11/2018, bà T1 làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan CSĐT Công an quận S.

Qua xác minh, vào năm 2018, Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH MTV X2 không nộp hồ sơ đấu thầu vào dự án của Công ty cổ phần D.

* Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2024/HS-ST ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Hoàng Anh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 30/8/2024, bị cáo Hoàng Anh T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin xem xét hoàn cảnh gia đình cho được hưởng án treo.

- Ngày 06/9/2024, bị hại bà Hà Thị T1 có đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân Tp Đà Nẵng có nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử không đúng theo nguyện vọng của bà và đề nghị xem xét lại. Ngày 10/9/2024 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng có Phiếu chuyển đơn kháng cáo của bà T1 về cho Tòa án nhân dân quận Sơn Trà. Ngày 13/9/2024 bà T1 gửi đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân quận Sơn Trà có nội dung: Cho rằng tổng số tiền mà bị cáo T chiếm đoạt của bà là 492.000.000 đồng chứ không phải 400.000.000 đồng, bao gồm: 400 triệu của 2 công ty X1 và Xuân Trung V; 22.000.000 đồng mà bị cáo T yêu cầu tôi đưa cho ông Nguyễn Văn H là trợ lý của ông T; 50.000.000 đồng tiền mua vé máy bay hạng thương gia và 20.000.000 đồng tiền cọc gói Thiết bị y tế bệnh viện Đ1, Long An; chưa kể chi phí tiền ăn, tiền khách sạn, chi phí đi gặp gỡ các đối tác, nhà thầu theo hướng dẫn của ông T... Cho rằng xét xử sơ thẩm vắng mặt ông Nguyễn Văn H là không khách quan, thiếu công bằng.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Hoàng Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, nhưng bị cáo cho rằng toàn bộ số tiền 400 triệu đồng nhận từ bà T1 bị cáo đều đưa cho một người tên T7 là người của Ban Q để lo lót trúng thầu nhưng không thành, sau đó bị cáo không liên lạc và chứng minh được T7 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm; quá trình tố tụng bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đã bồi thường cho bà T1 470 triệu đồng. Hiện nay, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, cha bị cáo là người có công với cách mạng hiện đã mất, mẹ bị cáo trên 72 tuổi già yếu bệnh tật, vợ thất nghiệp, có 2 con chưa thành niên, bị cáo là lao động chính trong gia đình có 5 người; tại hiên tòa phúc thẩm bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường thêm cho bà T1 số tiền 22.000.000 đồng theo nguyện vọng kháng cáo của bà T1 (đã thực hiện tại phiên tòa). Bị cáo xin HĐXX xem xét cho hoàn cảnh gia đình, đang nuôi con còn nhỏ để giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo.

- Bị hại Hà Thị Thu G nguyên nội dung kháng cáo; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử buộc bị cáo T phải bồi thường thêm cho bà 22.000.000 đồng ngoài số tiền 470 triệu đồng đã bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

+ Về kháng cáo của bị hại Hà Thị T1: Tại phiên tòa bị cáo đã thực hiện việc bồi thường thêm cho bà T1 số tiền 22.000.000 đồng nên đề nghị HĐXX ghi nhận.

+ Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp 2 lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo; tuy nhiên xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại T1 số tiền 22.000.000 đồng và bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết mới cần áp dụng bổ sung cho bị cáo, nên đề nghị chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo 15 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2018 đến ngày 31/3/2018 mặc dù không quen biết ai tại Công ty cổ phần D, không có khả năng lo lót giúp Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH MTV X2 trúng thầu thi công phần móng của block 1 (khu khách sạn căn hộ) và thi công block 2 (khu thấp tầng – khách sạn) công trình "khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hoàng C” do Công ty cổ phần D làm chủ đầu tư, nhưng Hoàng Anh T vẫn đưa ra thông tin gian dối về việc có khả năng lo lót cho hai công ty trên trúng thầu, rồi từ đó chiếm đoạt của ông Tống Viết T5, bà Hà Thị T1 số tiền 200.000.000 đồng (trong đó của ông T5 130.000.000 đồng, của bà T1 70.000.000 đồng), chiếm đoạt của ông Nguyễn Thanh T6 số tiền 200.000.000 đồng; số tiền chiếm đoạt được T khai đưa cho một người tên T7 để lo trúng thầu, nhưng quá trình điều tra không xác định được ai tên T7 có liên quan như lời khai của bị cáo; chứng cứ có tại hồ sơ vụ án xác định được bà T1 đã đưa 200.000.000 đồng tiền mặt cho T có sự chứng kiến của Nguyễn Văn H và đã nhiều lần chuyển khoản cho T với số tiền 200.000.000 đồng.

Với hành vi như trên, tại Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 21/8/2024 Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Anh T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản“ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Hà Thị T1, HĐXX nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T đồng ý và tự nguyện bồi thường thêm cho bà T1 số tiền 22.000.000 đồng nên HĐXX ghi nhận sự kiện này trong bản án (đã thực hiện ngay tại phiên tòa).

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp từ 2 lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều chiếm đoạt số tiền 200 triệu đồng thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp, cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền 470 triệu đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, mẹ già yếu bệnh tật, vợ thất nghiệp, có 2 con chưa thành niên, bị cáo là lao động chính trong gia đình; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, được bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt; đây là tình tiết mới thể hiện sự ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo cho bị hại; do đó HĐXX xét giảm thêm cho bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS, nhưng không có căn cứ để giảm hình phạt 15 tháng tù cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát vì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS; riêng kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo HĐXX không chấp nhận do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp từ 2 lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo và bà T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và bị hại Hà Thị T1; sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường thêm cho bị hại.

- Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Hoàng Anh T: 02 (Hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo bồi thường thêm cho bà Hà Thị T1 số tiền 22.000.000 đồng (đã thực hiện xong tại phiên tòa).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Anh T và bà Hà Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Sơn Trà,
  • - Công an quận Sơn Trà;
  • - PV27; PC81 Công an TP. Đà Nẵng;
  • - TAND quận Sơn Trà;
  • - THA DS quận Sơn Trà;
  • - Sở Tư pháp TPĐN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Minh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 235/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger