Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HSPT

Ngày 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh

Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức

Bà Hoàng Thị Nguyệt

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 316/2024/HSPT ngày 04/11/2024 đối với bị cáo Bùi Văn M và đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Bị cáo Bùi Văn M, sinh ngày 05/5/1999 tại: xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; CCCD số [...]

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường;

Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Con ông Bùi Văn N, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 03/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Bị cáo Vũ Ngọc K, sinh ngày 28/12/1993 tại: xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]

Nơi cư trú: Thôn I, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12;

Con ông Vũ Văn L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Bị cáo Nguyễn Văn T1, sinh ngày 12/02/1990, tại: Xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]

Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Con ông Nguyễn Sỹ C, sinh năm 1960 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1964; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1992; Bị cáo có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Vũ Ngọc K, sinh năm 1993

HKTT: Thôn I, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

Các bị cáo: Hoàng Sỹ H1 và Nguyễn Sỹ L2 không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Vũ Ngọc K đang nợ Bùi Văn M tiền đánh bạc với hình thức chơi máy đặt thú. M đã gọi điện đòi nợ nhiều lần không được nên M rủ Hoàng Sĩ H2 cùng đi đòi nợ. Sáng ngày 25/01/2024, M điều khiển xe mô tô BKS 36B2-473.71 chở H2 đến xưởng đá nơi Kết đang làm việc, khi gặp Kết ở xưởng đá, M đòi nợ thì K tiếp tục khất nợ nên M dùng tay phải tát một cái vào mặt K. Biết K có xe mô tô nên H2 tiến lại gần và hỏi K “Chìa khoá xe máy đâu?”, K không trả lời nên H2 dùng tay móc túi áo Kết để lấy chìa khoá xe máy. Kết cố giữ chìa khoá xe thì H2 nói to “Có đưa đây không?” và giật chìa khoá từ tay Kết. Khi thấy H2 giật được chìa khoá xe, thì M nói “Bây giờ tao cầm chiếc xe này về, hai ba hôm nữa thu xếp tiền trả tao, tao trả xe cho mà đi làm, trả trước 15 đến 20 triệu đồng rồi ra tết trả tiếp số nợ còn lại”. Sau đó H2 điều khiển xe mô tô BKS 36L6-031.22 của Kết mang về nhà, M điều khiển xe mô tô BKS 36B2-473-71 đi về.

Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, cùng ngày, Vũ Ngọc K đã có đơn trình báo cơ quan có thẩm quyền. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, triệu tập Bùi Văn M và Hoàng Sĩ H2 để lấy lời khai. Tại Cơ quan CSĐT, Bùi Văn M và Hoàng Sĩ H2 xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cưỡng đoạt tài sản như đã nêu trên và Hoàng Sĩ H2 chủ động giao nộp 01 xe mô tô BKS 36L6-031.22 và 01 điện thoại di động OPPO A76 màu xanh lắp sim số 0977407487. Bùi Văn M chủ động giao nộp 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu trắng lắp sim số 0338928368.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn M là quán Karaoke Phố Đ, quá trình khám xét, thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:

  • + 01 quyển sổ ghi chép bìa màu vàng sản xuất tại cơ sở sản xuất vở cao cấp Q, trong quyển sổ có 64 tờ giấy được đánh số lần lượt từ 1 đến 64.
  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AIR BLADE màu trắng BKS 36B2-473.71
  • + 01 máy trò chơi điện tử nhiều màu sắc có kích thước (205x150x70)cm đã qua sử dụng.
  • + 01 đầu thu camera nhãn hiệu @lhua, màu trắng hình hộp chữ nhật có kích thước (20,5 x 20,5 x 4) cm.

Sau khi thu giữ, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản niêm phong 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu trắng; 01 đầu thu camera; 01 bộ xử lý của máy trò chơi để phục vụ công tác giám định.

Qua điều tra, Bùi Văn M khai nhận khoảng cuối năm 2022, quán Karaoke Phố Đ phải đóng cửa do dịch Covid 19, M được chủ quán là anh Hoàng Sỹ T4, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giao trông coi, quản lý tài sản của quán. Nhằm thu lợi bất chính nên M đã vay của anh T4 số tiền 70.000.000 đồng đi thành phố T mua 01 máy đặt thú với giá 150.000.000 đồng về đặt tại quán Karaoke Phố Đ để phục vụ việc đánh bạc. Hình thức đánh bạc là người chơi khi muốn đánh bạc sẽ gặp M đưa tiền (hoặc nợ) để M dùng thẻ từ nạp điểm vào máy, quy ước 01 điểm tương đương với 1.000đ (Một nghìn đồng). Sau khi M nạp điểm thì người chơi tự chơi với máy, cách chơi là người chơi lựa chọn con vật, đặt cược số điểm vào con vật này, kết thúc vòng quay nếu dừng đúng con vật đã chọn và đặt cược thì sẽ thắng, nếu không trúng thì thua số điểm đã đặt cược.

Trong thời gian từ tháng 06/2023 đến tháng 8/2023, M đã cho Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2, Hoàng Văn T5 và Lê Văn H3 đánh bạc với hình thức nêu trên. Đối với những người chơi nạp nợ điểm thì M ghi chép vào quyển sổ bìa vàng và thông báo cho người chơi về số nợ sau mỗi lần chơi.

Làm việc với Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2, Hoàng Văn T5, Lê Văn H3 các đối tượng khai nhận có tham gia đánh bạc nhiều lần với hình thức đặt thú tại quán Karaoke Phố Đ do Bùi Văn M quản lý trong khoảng thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 8/2023. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, nhiều lần đánh bạc các đối tượng không nhớ rõ thời gian, số tiền đánh bạc cụ thể. Sau khi làm việc, Hoàng Văn T5 chủ động giao nộp 01 xe mô tô BKS 36B1-725.87, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 36B1-725.87, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS bắt buộc số 1452348.

Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, xác định các lần M đã đánh bạc với Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2 với số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên như sau:

- Đối với Vũ Ngọc K:

Ngày 24/6/2023, M cho Kết nạp nợ 6.000 điểm tương đương 6.000.000 đồng, K chơi thua hết số điểm. Ngày 28/6/2023, M cho Kết nạp nợ 7.000 điểm tương đương 7.000.000 đồng, K chơi thua 4.000 điểm, còn lại 3.000 điểm trên máy. Ngày 30/6/2023, M cho Kết nạp nợ 12.000 điểm tương đương 12.000.000 đồng, K chơi thua 10.000 điểm, còn lại 2.000 điểm trên máy. Ngày 04/7/2023, M

cho Kết nạp nợ 5.000 điểm tương đương 5.000.000 đồng, K chơi thua hết số điểm. Ngày 05/7/2023, M cho Kết nạp nợ 5.000 điểm tương đương 5.000.000 đồng, K chơi thua hết số điểm.

Như vậy, trong thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 7/2023, M và K đã đánh bạc với nhau 05 lần với tổng số tiền đánh bạc là 35.000.000 đồng và K đã thanh toán cho M số tiền là 11.000.000 đồng. Ngoài ra K còn nợ M một số tiền. Kết viết giấy nợ số tiền 40.000.000 đồng, mỗi tháng trả lãi số tiền 3.500.000 đồng tương đương với lãi suất 106%/năm, Kết trả được 03 tháng thì không tiếp tục trả nữa. M gọi điện đòi nợ nhiều lần không được nên ngày 25/01/2024 M đã rủ H2 đi đòi nợ như đã nêu trên.

- Đối với Nguyễn Văn T1: Đêm ngày 02/7/2023 và rạng sáng ngày 03/7/2023, M cho T1 nạp nợ 9.000 điểm tương đương 9.000.000 đồng, T1 chơi thua hết số điểm. Ngày 07/7/2023, M cho T1 nạp nợ 7.000 điểm tương đương 7.000.000 đồng, T1 chơi thua 5.000 điểm, còn lại 2.000 điểm trên máy.

Như vậy, trong ngày 02/7/2023 và 07/7/2023, M và T1 đã đánh bạc với nhau 02 lần với tổng số tiền đánh bạc là 16.000.000 đồng, số tiền này T1 chưa trả cho M.

- Đối với Nguyễn Sỹ L2: Ngày 06/7/2023, M cho L2 nạp nợ 6.800 điểm tương đương 6.800.000 đồng, L2 chơi thua hết số điểm.

Như vậy, trong ngày 06/7/2023, M và L2 đã đánh bạc với nhau 01 lần với số tiền đánh bạc là 6.800.000 đồng, L2 đã trả cho M số tiền 5.500.000 đồng.

Ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT ban hành Yêu cầu định giá tài sản đối với xe mô tô BKS 36L6-031.22. Theo Bản kết luận định giá tài sản số 02/2024/KL-HĐĐGTS ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:

“ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, màu đỏ đen xám, số khung 630XFZ013232, số máy JF63E1013260, mua từ tháng 01/2016

Giá trị tài sản bị xâm phạm là: 19.000.000 đồng”.

Đối với hành vi có dấu hiệu của tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bùi Văn M, qua xác minh, giao dịch giữa M và K là giao dịch không xác định thời hạn, thực tế M đã thu được 03 tháng tiền lãi là 10.500.000 đồng với số tiền gốc là 40.000.000 đồng, do đó lãi suất Kết phải trả cho M tương đương với 3.500.000: 40.000.000 : 30 ngày x 365 ngày = 106%/năm. Tuy lãi suất đã gấp 05 lần lãi suất tối đa mà Bộ luật dân sự quy định nhưng số tiền lãi thu được không đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 201 BLHS nên Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn M về hành vi này.

Đối với Lê Sỹ T6, quá trình điều tra xác định tuy T6 là chủ của quán K1 Đêm nhưng anh T6 đã chuyển sang làm kinh doanh đá mỹ nghệ và giao lại quán karaoke cho M trông coi, quản lý từ cuối năm 2022. Việc M đặt máy đặt thú để đánh bạc tại quán Karaoke Phố Đ anh T6 không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với anh Lê Sỹ T6 về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm với Bùi Văn M.

Qua xác minh xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xám trắng đen, BKS 36B2-473.71 đăng ký tên chủ sở hữu Trần Quốc T7 (trú tại thôn N, xã L, huyện N). Làm việc Cơ quan CSĐT, anh Trần Quốc T7 khai báo, xe mô tô BKS 36B2-473.71 anh đã bán cho bà Phạm Thị H4 với giá 10.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Làm việc với Cơ quan CSĐT, chị Phạm Thị H4 khai báo xe mô tô BKS 36B2-473.71 chị mua từ anh Trần Quốc T7, chị cho Bùi Văn M mượn để làm phương tiện đi lại, chị không biết việc M sử dụng xe mô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX míu đỏ đen bạc BKS 36B1-725.87, đăng ký chủ sở hữu Hoàng Văn Đ. Làm việc với Cơ quan CSĐT đối tượng Hoàng Văn T5 khai báo xe mô tô nói trên anh Đ đã cho T5 và T5 sử dụng làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh T5 sử dụng xe mô tô BKS 36B1-725.87 làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.

* Vật chứng vụ án:

Sau khi điều tra, làm rõ, Cơ quan CSĐT đã xử lý vật chứng như sau:

  • - Trả lại cho Vũ Ngọc K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, màu đỏ đen xám, BKS 36L6-031.22;
  • - Trả lại cho chị Phạm Thị H4 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xám trắng đen, BKS 36B2-473.71; 01 đầu thu camera nhãn hiệu @lhua.
  • - Trả lại cho Hoàng Văn T5 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen bạc, BKS 36B1-725.87; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 36B1-725.87; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS bắt buộc số 1452348;
  • - Trả lại cho Hoàng Sĩ H2 01 điện thoại di động OPPO A76 màu xanh lắp sim số 0977407487;
  • - Trả lại cho Bùi Văn M 01 điện thoại di động Iphone XSMAX màu trắng lắp sim số 0338928368.

Tiếp tục tạm giữ chờ xử lý theo quy định đối với:

  • - 01 quyển sổ ghi chép bìa màu vàng sản xuất tại cơ sở sản xuất vở cao cấp Q, trong quyển sổ có 64 tờ giấy được đánh số lần lượt từ 1 đến 64.
  • - 01 máy trò chơi điện tử nhiều màu sắc có kích thước (205x150x70)cm đã qua sử dụng.

* Về truy thu phương tiện phạm tội:

  • - Số tiền đánh bạc Bùi Văn M đã nhận từ Vũ Ngọc K là 11.000.000 đồng và Nguyễn Sỹ L2 là 5.500.000 đồng, tổng cộng là 16.500.000 đồng hiện M chưa giao nộp.
  • - Số tiền Vũ Ngọc K đánh bạc còn nợ Bùi Văn M là 24.000.000 đồng hiện Kết chưa giao nộp.
  • - Số tiền Nguyễn Văn T1 đánh bạc nợ Bùi Văn M là 16.000.000 đồng, hiện Thăng chưa giao nộp.
  • - Số tiền Nguyễn Sỹ L2 đánh bạc còn nợ Bùi Văn M là 1.300.000 đồng, hiện L2 chưa giao nộp.

* Về yêu cầu bồi thường dân sự:

Bùi Văn M và Hoàng Sĩ H2 đã bồi thường cho Vũ Ngọc K số tiền 5.000.000 đồng, Vũ Ngọc K sau khi nhận tiền bồi thường không có yêu cầu gì khác và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho M và H2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:

Tuyên bố: Bùi Văn M, Hoàng Sĩ H2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bùi Văn M, Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bùi Văn M 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Buộc Bùi Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 31( Ba mươi mốt) tháng tù, trừ thời gian tạm giam 09 ngày, còn phải chấp hành hình phạt tù là 30 tháng 21 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Hoàng Sĩ H2 13 (Mười ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng. Thời hạn thi hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vũ Ngọc K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T1 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Sỹ L2 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo M, H2, K, T1, L2. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo L2.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự

+ Truy thu đối với Bùi Văn M số tiền là 16.500.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

+ Truy thu đối với Vũ Ngọc K số tiền là 24.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

+ Truy thu đối với Nguyễn Văn T1 số tiền là 16.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

+ Truy thu đối với Nguyễn Sỹ L2 số tiền là 1.300.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.

* Sau khi xét xử, bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K và Nguyễn Văn T1 làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c,e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K và Nguyễn Văn T1

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đối với các bị cáo như sau:

  • - Giảm cho bị cáo Bùi Văn M từ 01 tháng đến 02 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và từ 06 tháng đến 07 tháng tù về tội “ Đánh bạc”;
  • - Giảm cho bị cáo Vũ Ngọc K từ 04 tháng đến 05 tháng tù;
  • - Giữ nguyên hình phạt 09 tháng tù nhưng cho bị cáo Nguyễn Văn T1 được hưởng án treo, ấn định thời gian thửa thách theo quy định của pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu an sphí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vào ngày 25/01/2024, Bùi Văn M cùng Hoàng Sĩ H2 đã thực hiện hành vi đe doạ, uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt của Vũ Ngọc K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade có giá trị 19.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo M và H2 đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015.

Các bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2 đã có hành vi đánh bạc như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7/2023, Bùi Văn M đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức máy đặt thú với Vũ Ngọc K 05 lần, số tiền là 35.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Văn T1 02 lần, số tiền là 16.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Sỹ L2 01 lần, số tiền là 6.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo M, K, T1 và L2 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn M và Hoàng Sĩ H2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ L2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội. Các bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Xét kháng cáo của các bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo gồm:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K và Nguyễn Văn T1 phạm tội từ hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Văn M, Hoàng Sĩ H2, Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Sỹ L2 đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bùi Văn M, được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Đầu thú” quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn T1 có bố đẻ là người có công với cách mạng vì vậy bị được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại giai đoạn phúc thẩm,

- Đối với bị cáo Vũ Ngọc K và bị cáo Bùi Văn M: Các bị cáo giao nộp cho Tòa án Giấy xác nhận tài trợ Làng trẻ em mồ côi SOS Thanh Hoá và Giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện tại Bệnh viện tỉnh T. Đây là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tấm lòng tương thân tương ái, cần khích lệ và lan toả trong cộng đồng. Ngoài ra, tại phiên toà, bị hại Vũ Ngọc K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Văn M. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo M và K, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành người tốt, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tai phiên toà là có căn cứ. Bị cáo Mạnh phạm 02 tội; Bị cáo M và K đánh bạc từ 05

lần trở lên nên không đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo đối với bị cáo M và bị cáo K.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 giao nộp cho Tòa án thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là: Bị cáo có đơn xin trình bày hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bản thân đang nuôi con nhỏ và bố mẹ già yếu ốm đau nên xin được hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; Trong thời gian sinh sống tại địa phương, bị cáo T1 đã cứu giúp người bị nạn và được UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa xác nhận gương người tốt việc tốt. Bị cáo tham gia ủng hộ quỹ người nghèo, được Ủy ban MTTQ xã V, huyện V gửi thư cảm ơn; Bị cáo đã chủ động nộp số tiền truy thu 16.000.000đ và tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét thấy, Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T1 09 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, tuy nhiên cả hai lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền dùng đánh bạc không nhiều, bị cáo thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên đã chủ động nộp toàn bộ số tiền bị truy thu do phạm tội. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng. Chính quyền nơi cư trú xác nhận cho bị cáo xin được hưởng án treo. Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật cũng như phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách.

[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí phúc thẩm:

Các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c,e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K và Nguyễn Văn T1.

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

[2] Áp dụng:

Khoản 1 Điều 170; khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn M.

Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Ngọc K.

Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T1.

[3] Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Đánh bạc”; Bị cáo Vũ Ngọc K và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt Bùi Văn M 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 10 (M1) tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Buộc Bùi Văn M phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 22 (Hai mươi hai) tháng tù, trừ thời gian tạm giam 09 ngày, còn phải chấp hành hình phạt tù là 21 (Hai mươi mốt) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án.

- Xử phạt Vũ Ngọc K 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án.

- Xử phạt Nguyễn Văn T1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/12/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

+ Truy thu đối với Bùi Văn M số tiền là 16.500.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

+ Truy thu đối với Vũ Ngọc K số tiền là 24.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

+ Công nhận bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp xong số tiền truy thu là 16.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002809 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Công nhận bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp xong số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002809 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng: Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Văn M, Vũ Ngọc K, Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Nơi gửi:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - P7 VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Vĩnh Lộc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện V;
  • - Cơ quan CSĐT, THAHS huyện V;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HSPT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (cưỡng đoạt tài sản và đánh bạc)

  • Số bản án: 235/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cưỡng đoạt tài sản và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo về xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger