|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 235/2024/HS-ST
Ngày 18 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn
Bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo:
Đào Trọng H, sinh năm 1981; Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 06/12. Bố Đào Trọng Q, sinh năm 1958. Mẹ Hoàng Thị N, sinh năm 1960. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ Thân Thị X, sinh năm 1984. Có 01 con, sinh năm 2020
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 05/9/2023 bị Chủ tịch UBND phường D, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Ngày 26/10/2023 bị Công an thành phố B xử lý vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 27/7/2002 bị UBND xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.
+ Ngày 24/7/2008 bị UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2007/HSST ngày 17/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2011/HSST ngày 31/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2013/HSST ngày 30/10/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 23/5/2016, chấp hành xong án phí tháng 12/2013 và được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.
* Bị hại:
- Chị Lại Phương T, sinh năm 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang
- Chị Lương Thu P, sinh năm 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Đức T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
- Anh Tạ Thúy L, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Đình Q1, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
- Ông Thân Văn T2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang
- Chị Thân Thị X, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng: Chị Nghiêm Thị T3, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, đường H, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/8/2024, Đào Trọng H, sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX biển số 98B1-210.21 đi từ nhà đến cửa hàng của chị Nghiêm Thị T3, sinh năm 1985 ở đường H, tổ A, khu C, xã S, thành phố B để mua hoa quả. Thời điểm này có chị Lại Phương T, sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang và chị Lương Thu P, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B cũng đến để mua hoa quả. Chị T để chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số I 356714114550094 còn chị P để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số Imei 356735113389069 tại mặt bàn quầy để đi chọn mua hoa quả. Hai chiếc điện thoại này đều được cài đặt mật khẩu màn hình, không có sim.
Đào Trọng H chọn một số hoa quả rồi đi ra bàn quầy thanh toán tiền. Trong lúc chờ thanh toán, H nhìn thấy 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng gold của chị P và chị T để trên mặt bàn quầy nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc mọi người không để ý, H dùng tay trái cầm 02 chiếc điện thoại sau đó cất giấu mỗi chiếc điện thoại vào túi quần hai bên rồi điều khiển xe đi đến tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang tìm địa điểm để bán 02 chiếc điện thoại vừa trộm cắp được. H đi đến cửa hàng mua bán điện thoại M Mobile gặp anh Trần Đức T1, sinh năm 1983 là chủ cửa hàng. Tại đây, H đưa cho anh T1 chiếc điện thoại trộm cắp của chị P nhưng nói dối là điện thoại của H bị quên mật khẩu và nhờ phá mật khẩu. Anh T1 nói không phá được mật khẩu thì H đặt vấn đề bán. Anh T1 đồng ý mua chiếc điện thoại và trả cho H 2.500.000 đồng tiền mặt. Để tránh bị phát hiện, H đi sang cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động Quý Thiệu ở gần đó để bán chiếc điện thoại còn lại. Tại đây, H đưa cho anh Tạ Thùy L1, sinh năm 1999 là nhân viên cửa hàng xem chiếc điện thoại di động trộm cắp của chị T nhưng nói dối là điện thoại của H bị quên mật khẩu và nhờ phá mật khẩu. Anh L1 nói không phá được mật khẩu thì H đặt vấn đề bán. Anh L1 đồng ý mua và trả cho H 2.500.000 đồng tiền mặt. Sau khi bán 2 chiếc điện thoại, H đã sử dụng chi tiêu hết số tiền trên.
Đối với chị T và chị P sau khi phát hiện bị mất điện thoại đã xem camera tại cửa hàng của chị T3 thì nghi ngờ H trộm cắp. Chị P kiểm tra định vị rồi đến cửa hàng điện thoại di động Minh Q2 Mobile trả cho anh T1 2.500.000 đồng chuộc lại chiếc điện thoại sau đó nộp cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra cho chị P tự cung cấp và đăng nhập mật khẩu 191201 thì mở được khoá màn hình và còn lưu dữ liệu cá nhân của chị P.
Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Đào Trọng H đến làm việc thì H đầu thú và khai nhận đã trộm cắp 02 chiếc điện thoại nêu trên. Cơ quan điều tra thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 màu xanh lam gắn sim số 0865.302.010.
Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Trọng H tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang thu giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 98B1-210.21
- - 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép có quai; 01 áo sơ mi dài tay kẻ ca rô; 01 quần soóc bò.
Cùng ngày, anh Tạ Thùy L1 giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số I 356714114550094. Đây là chiếc điện thoại mà H trộm cắp của chị T sau đó đem đi bán. Tiến hành kiểm tra số Imei trùng khớp với số Imei do chị T cung cấp.
Kết luận định giá tài sản 216/KL-HĐ ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng gold số IMEL: 356735113389069 đã qua sử dụng trị giá tại thời điểm ngày 27/8/2024 là 12.000.000 đồng.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng gold số IMEL: 356714114550094 đã qua sử dụng trị giá tại thời điểm ngày 27/8/2024 là 12.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 24.000.000 đồng .
Cơ quan điều tra đã cho Đào Trọng H xác định địa điểm trộm cắp và địa điểm bán 2 chiếc điện thoại. Kết quả, H xác định địa điểm trộm cắp là tại cửa hàng của chị Nghiêm Thị T3 ở tổ A, khu C, xã S, thành phố B; địa điểm bán 2 chiếc điện thoại là cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Quý Thiệu và cửa hàng M ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Cơ quan điều tra đã cho Đào Trọng H thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, H thực hiện động tác dùng tay trái trộm cắp 2 chiếc điện thoại di động để trên mặt bàn quầy rồi cất vào 2 túi quần như đã khai.
Cơ quan điều tra đã cho Đào Trọng H nhận dạng ảnh của anh Trần Đức T1 và Tạ Thùy L1. Kết quả, H nhận đúng ảnh và xác định đã bán 02 điện thoại trộm cắp được cho anh T1 và anh L1 vào ngày 26/8/2024.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video được trích xuất từ camera lắp đặt tại nhà chị Nghiêm Thị T3 và tại cửa hàng M có ghi lại hình ảnh liên quan vụ việc.
Kết luận giám định số 2186/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video được lưu trữ trong 02 đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 10 (mười) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã cho Đào Trọng H quan sát các file video nêu trên. Kết quả, H xác định có hình ảnh H tại cửa hàng của chị T3 và hình ảnh H đến cửa hàng M bán điện thoại trộm cắp.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Lương Thu P chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max số IMEL: 356735113389069; trả lại chị Lại Phương T chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max số IMEL: 356714114550094.
Chiếc xe mô tô Honda Wave RSX biển số 98B1-210.21 là của ông Thân Văn T2, sinh năm 1965, trú tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang là bố vợ Đào Trọng H cho H mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã trả lại ông T2 chiếc xe mô tô trên.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lương Thu P yêu cầu bị can Đào Trọng H bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Anh Nguyễn Đình Q1 là chủ cửa hàng điện thoại Quý T4 Mobile không yêu cầu bị can H bồi thường.
Đối với anh Trần Đức T1, Tạ Thùy L1 mua điện thoại di động do Đào Trọng H đem đến bán nhưng đều không biết là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép có quai; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ca rô và 01 quần soóc bò tạm giữ của Đào Trọng H được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 227/CT-VKS ngày 02/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Đào Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đào Trọng H từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- - Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án. Tịch thu 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép có quai; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ca rô và 01 quần soóc bò để tiêu hủy.
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Đào Trọng H phải bồi thường cho chị Lương Thu P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/8/2024, Đào Trọng H điều khiển xe mô tô biển số 98B1-210.21 đến cửa hàng của chị Nghiêm Thị T3 trên đường H, xã S, thành phố B để mua hoa quả. H nhìn thấy 02 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro max của chị Lại Phương T và chị Lương Thu P là khách hàng đến mua hoa quả để tại mặt bàn quầy, 2 điện thoại đều cài đặt mật khẩu. Lợi dụng sơ hở, H trộm cắp 02 chiếc điện thoại sau đó đem đi bán được 5.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp là 24.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ 2 chiếc điện thoại trả lại cho người bị hại.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đào Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]. Đánh giá về nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tiền sự: Ngày 05/9/2023 bị Chủ tịch UBND phường D, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và Ngày 26/10/2023 bị Công an thành phố B xử lý vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhân thân bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” và được xoá án tích. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng không nhận thức được việc làm của mình mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đầu thú trước pháp luật, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7]. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án bị hại là chị Lương Thu P yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại là chị P số tiền 2.500.000 đồng. Xét yêu cầu trên của bị hại là có căn cứ cần được chấp nhận. Đối với anh Nguyễn Đình Q1 là chủ cửa hàng điện thoại Quý T4 Mobile không yêu cầu bị cáo H bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8]. Đối với anh Trần Đức T1 và anh Tạ Thùy L1 là người mua điện thoại di động do Đào Trọng H đem đến bán nhưng đều không biết đây là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[9]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Lương Thu P chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max số IMEL: 356735113389069; trả lại chị Lại Phương T chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max số IMEL: 356714114550094 và chiếc xe mô tô Honda Wave RSX biển số 98B1-210.21 cho ông Thân Văn T2 nên không đặt ra giải quyết.
[10]. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép có quai; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ca rô và 01 quần soóc bò không có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy.
[11].Về hình phạt bổ sung bằng tiền, bị cáo không có nghề nghiệp kinh tế gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[12]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Điểm c khoản 2 khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Đào Trọng H 01 (Một) năm 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đào Trọng H phải bồi thường cho chị Lương Thu P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Vật chứng của vụ án: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án. Tịch thu 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai màu đen; 01 đôi dép có quai; 01 áo sơ mi dài tay có kẻ ca rô và 01 quần soóc bò để tiêu hủy.
- Về án pí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 235/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
