TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------- |
Bản án số: 235/2024/HSST
Ngày: 12/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Đỗ Thị Hương
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tháp - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xét xử trực tuyến, trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2024/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
ĐỖ DUY C, sinh năm 1982
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: K, xã P, huyện S, Hà Nội; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Duy C1, con bà Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị M (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 01/08/2024, tổ công tác Công an xã P - Công an huyện S, thành phố Hà Nội đang trên đường làm nhiệm vụ tại địa phận khối 14, xã P, huyện S đã phát hiện Đỗ Duy C, sinh năm 1982, trú tại khối A, xã P, huyện S, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính. Tại đây, C tự giác giao nộp 01 túi nilong kích thước khoảng 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng. Tổ công tác đã niêm phong túi nilong vào một phong bì theo quy định và đưa C về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra Đỗ Duy C khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy, nên khoảng 09h 00' ngày 01/08/2024, C từ nhà đi bộ ra bến xe buýt rồi đi đến khu vực khu công nghiệp S, thuộc thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, C gặp một người nam giới không quen biết đang đứng ở rìa đường, C đặt vấn đề hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và ma túy hồng phiến. Người này đồng ý và nhận tiền rồi đưa lại cho C 01 túi nilong bên trong chứa ma túy đá và 02 viên ma túy hồng phiến. C nhận ma túy cất giấu vào trong người rồi tiếp tục đi xe buýt về nhà, khi đến gần khu vực gầm cầu đường 18, thuộc khối A, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội, C xuống xe đi vào trong quán nước ngồi quan sát để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra và tạm giữ người cùng vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Duy C tại khối A, xã P, huyện S, TP Hà Nội, kết quả: không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số: 5722 ngày 10/8/2024 của Phòng K, Công an T, Kết luận trưng cầu giám định xác định: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilong tạm giữ của Đỗ Duy C có khối lượng: 0,266 gam là ma túy loại Methaphetamine; 02 viên nén màu hồng bên trong túi nilong tạm giữ của Đỗ Duy C có tổng khối lượng: 0,193 gam là ma túy loại Methaphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được của Đỗ Duy C là 0,459 gam ma túy loại “Methamphetamine”.
* Vật chứng thu giữ gồm:
01 túi nilong kích thước khoảng 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng; 01 điện thoại di động kiểu Iphone 7 màu đen.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho C ngày 01/8/2024, tại khu vực thành phố P, C khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Đỗ Duy C, kết quả: dương tính với ma túy.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
[2]. Tại bản cáo trạng số 186/CT - VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Đỗ Duy C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận Đỗ Duy C đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Xử phạt Đỗ Duy C từ 15 đến 18 tháng tù.
- + Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của Đỗ Duy C và Giám định Viên.
- + Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động kiểu Iphone 7 màu đen.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Khoảng 12h 00' ngày 01/8/2024, tại địa phận khối A, xã P, huyện S, Hà Nội, Đỗ Duy C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,459 gam chất ma túy loại “Methaphetamine”, mục đích để sử dụng thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S phát hiện kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c, H1, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật.
Vì vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[2]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3]. Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[4]. Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Methaphetamine có chữ ký của bị cáo và Giám định Viên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu đen thu giữ của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo đề nghị được nhận lại nên trả lại cho bị cáo.
[5]. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện S, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015;
- - Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Đỗ Duy C 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2024.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý loại Methaphetamine có chữ ký của Đỗ Duy C và Giám định viên.
Trả lại Đỗ Duy C 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu đen
(theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/10/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu HS, VP. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Bích Nguyệt |
Bản án số 235/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 235/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C tàng trữ trái phép chất ma túy
