Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HS-ST

Ngày 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Tâm;
  2. Ông Nguyễn Thanh Cần.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 250/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh L, sinh năm 1994; tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị Y; tiền án: Ngày 17/01/2022 bị Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự số 16/2022/HS-ST (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/11/2023, chấp hành xong án phí ngày 05/3/2022); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 cho đến nay; có mặt.
  2. Trần Tấn L1, sinh năm 1996; tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị C; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2024 cho đến nay; có mặt.
  3. Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1996; tại Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn E, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng M1 và bà Đỗ Thị T2; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/QĐ-TA ngày 15/02/2023 với thời hạn 14 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/4/2024 cho đến nay; có mặt.
  4. Dương Văn T3, sinh năm 1995; tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T4 và bà Huỳnh Thị P; có vợ tên Trần Thị Kim N và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/4/2024 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn T3, Nguyễn Trọng T1, Trần Tấn L1 và Nguyễn Thanh L đều là đối tượng nghiện ma túy.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, T1 điều khiển xe mô tô biển số 47B2-984.02 đi từ nhà T tại xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước đến nơi ở của Thuộc tại nhà trọ Nguyễn Thị H thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chơi. Tại đây, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 rủ T3 mỗi người góp 100.000 đồng mua ma túy để cùng sử dụng, thì T3 đồng ý. Thuộc dùng điện thoại gọi thông qua mạng xã hội Z cho L1 có tài khoản tên “Joker” để hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì L1 đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu vực gần nhà trọ của L1. L1 đi đến khu nhà trọ nơi L ở thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì L đồng ý bán. L nói L1 ở phòng trọ của L đợi, L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi đến khu vực chợ P1 thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để gặp người tên Bé E (không rõ nhân thân; từng bán ma túy cho L trước đó) mua 01 gói nylon bên trong có chứa chất ma túy với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L quay về đưa ma túy cho L1 rồi L1 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho L thông qua số tài khoản 0347442988 của ngân hàng Q, gồm số tiền mua ma túy 200.000 đồng và số tiền 300.000 đồng L1 nợ L trước đó. Mua được ma túy, L1 đem ma túy về nhà trọ Tạ Ngọc Thúy N1 tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 điều khiển xe mô tô biển số 47B2-984.02 của T1 chở T1 đi đến nhà trọ của L1 tại đường T thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì gặp L1 đang đứng đợi. Lúc này, T1 đưa cho L1 số tiền 200.000 đồng, L1 đưa cho T1 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể trắng là ma túy đá, T1 cất ma túy vừa mua được vào trong miệng rồi T3 chở T1 về.

Khi T3 điều khiển xe mô tô biển số 47B2-984.02 chở T1 về đến đường V thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường T đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong miệng của T1 có 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể trắng, T1 khai nhận đây là ma túy của T1 và T3 vừa mua được của Trần Tấn L1 cất giấu để sử dụng. Sau đó, Công an phường T tiến hành thu giữ, niêm phong 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nêu trên rồi đưa T3 và T1 về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ vụ việc ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.

Trên cơ sở lời khai của T1 và T3, ngày 30/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Tấn L1 tại nhà trọ T6 thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và triệu tập L1 làm việc. Tại Cơ quan điều tra, L1 khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho T1 và Thuộc vào ngày 29/4/2024 tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương với số tiền 200.000 đồng, đồng thời, L1 còn khai nhận mua ma túy từ Nguyễn Thanh L để bán lại cho T1 và T3. Cùng ngày 30/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phối hợp với Công an phường B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh L tại phòng trọ không số thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và triệu tập L làm việc. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho L1 vào ngày 29/4/2024 tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương với số tiền 200.000 đồng.

Quá trình điều tra còn xác định, trước khi bị phát hiện, ngày 27/4/2024, L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho L1 với số tiền 300.000 đồng tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L1 dùng số ma túy mua được này bán lại cho T1 và T3 với số tiền 300.000 đồng tại phòng trọ của L1 tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan, gồm:

  • 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
  • 01 xe mô tô biển số 47B2-984.02 nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu sơn bạc đen, số máy RLCUE3740NY150672, số khung E32VE601685, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme của Dương Văn T3;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus của Nguyễn Thanh L;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A05s của Nguyễn Trọng T1;

Tại Bản kết luận giám định số 2155/KL-KTHS(MT) ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ của Nguyễn Trọng T1 và Dương Văn T3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1731 gam.

Xe mô tô biển số 47B2-984.02 nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu sơn bạc đen, số máy RLCUE3740NY150672, số khung E32VE601685, đã qua sử dụng do Nguyễn Trọng T1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu.

Cáo trạng số 257/CT-VKS.TU ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L, bị cáo Trần Tấn L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T1, bị cáo Dương Văn T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Trần Tấn L1 từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Dương Văn T3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối tượng ma tuý còn lại sau giám định; đối với xe mô tô 47B2-984.02, điện thoại Realme màu đỏ là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với điện thoại Iphone 6 Plus màu trắng và điện thoại Samsung màu đen không liên quan hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tại phần tranh luận; lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời khai của các bị cáo thống nhất lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở xác định: Ngày 27/4/2024 và ngày 29/4/2024, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thanh L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Tấn L1 02 lần với số tiền bán ma túy mỗi lần là 300.000 đồng và 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy của L, L1 đã tiếp tục bán trái phép chất ma túy 02 lần cho Thuộc với số tiền bán ma túy mỗi lần là 300.000 đồng và 200.000 đồng. Ngày 29/4/2024, tại khu phố K, phường T, thành phố T, Dương Văn T3 và Nguyễn Trọng T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1731 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước về lĩnh vực chất gây nghiện. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Tấn L1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Dương Văn T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Dương Văn T3 thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, cùng góp số tiền ngang nhau để mua ma tuý nên chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau. Đối với hành vi mua bán của các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Tấn L1 là độc lập với nhau, không có vai trò đồng phạm, mức độ phạm tội ngang nhau nên chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo Nguyễn Trọng T1 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

[7] Về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy đối; đối với xe mô tô 47B2-984.02, điện thoại Realme màu đỏ là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với điện thoại Iphone 6 Plus màu trắng và điện thoại Samsung màu đen không liên quan hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Tấn L1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Dương Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2024.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Tấn L1 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2024.

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.

  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Dương Văn T3 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: Bì thư đã niêm phong có kí hiệu 2155/PC09 bên trong có chứa 0,1603g ma tuý;
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Xe mô tô biển số 47B2-984.02 nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu sơn bạc đen, số máy RLCUE3740NY150672, số khung E32VE601685, điện thoại Realme màu đỏ.
  • Trả lại điện thoại Iphone 6 Plus màu trắng cho bị cáo Nguyễn Thanh L.
  • Trả lại điện thoại Samsung màu đen cho bị cáo Nguyễn Trọng T1.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

3. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 235/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger