Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 235/2024/HS-ST

Ngày: 29-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng.

Ông Nguyễn Hồng Đức.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh Q, sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số C đường L, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S (đã chết) và bà Bùi Thị H; vợ, con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16-6-2021, Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường, thời hạn 03 tháng; Ngày 12-12-2022, Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường, thời hạn 03 tháng; nhân thân: Ngày 06-10-2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng; Ngày 23-01-2017, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01-8-2024 chuyển tạm giam ngày 10-8-2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N; Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn N; Ông Trần Việt H1 (không triệu tập đến phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 01-8-2024 tổ công tác Công an phường N (nay là phường N), thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba đường L, ngõ rẽ về gầm cầu Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Phạm Minh Q đi xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và thu giữ trong tay trái của Q một túi ni lông màu đen, bên trong có chứa 06 gói giấy bạc màu trắng, trong đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Q khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Minh Q. Ngoài ra, tạm giữ của Q một chiếc xe đạp màu đen, đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1407/KL-KTHS ngày 06-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 06 gói giấy bạc màu trắng (đều được gói trong 01 gói ni lông màu đen), được niêm phong gửi định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Tổng khối lượng mẫu: 0,260 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh Q khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01-8-2024, Q đi xe đạp một mình từ nhà đến khu vực gần đền C Bơ, xã N (nay là phường N) thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích mua Heroine về sử dụng. Khi đến nơi Q gặp một người phụ nữ có đặc điểm khoảng 60 tuổi, cao 1,6 mét, mặc quần áo dài tay tối màu (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang đứng ở ven đường. Q hỏi mua 200.000 đồng Heroine, người phụ nữ đồng ý bán, nhận tiền của Q đưa và đưa cho Q 01 gói ni lông màu đen. Q cầm gói ni lông màu đen mở ra thấy bên trong có 06 gói Heroine đều gói bằng giấy bạc màu trắng, Q cầm gói ma tuý trên tay trái đạp xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 236/CT-VKS-TPNĐ ngày 14-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Phạm Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Phạm Minh Q đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản Cáo trạng đã nêu.

Ngày 16-10-2024 bị cáo Phạm Minh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bị cáo bị bệnh lao kháng thuốc, sức khoẻ yếu đang phải điều trị tại Bệnh viện không thể tham gia phiên toà được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Minh Q tại hồ sơ vụ án đã thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Minh Q từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Minh Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về xét xử vắng mặt bị cáo:

Ngày 16-10-2024 bị cáo Phạm Minh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bị cáo bị bệnh lao kháng thuốc, sức khoẻ yếu đang phải điều trị tại Bệnh viện, không thể tham gia phiên toà được. Đơn của bị cáo có xác nhận của nhà tạm giữ Công an thành phố N. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị xin xét xử vắng mặt của bị cáo và xét xử vắng mặt bị cáo tại phiên toà.

[3] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Minh Q trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 1407/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ, ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại khu vực ngã ba đường L, ngõ rẽ vào gầm cầu Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định. Phạm Minh Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,260 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Phạm Minh Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo có hành vi tàng trữ để sử dụng 0,260 gam Heroine. Vì vậy bị cáo Phạm Minh Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố thì bị cáo Phạm Minh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh Q là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Phạm Minh Q tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng. Bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong gửi giám định ngày 01 tháng 8 năm 2024 là vật thuộc loại nhà Nhà nước cấm tàng trữ nên sẽ tiêu hủy.

- Chiếc xe đạp màu đen, đã cũ là tài sản của bị cáo mua từ tiền tự lao động mà có nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật

[9] Về án phí:

Bị cáo Phạm Minh Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng tố tụng Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Minh Q 02 năm 03 tháng tù (hai năm ba tháng tù).
    • Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1407/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
    • Trả lại cho bị cáo chiếc xe đạp màu đen, đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-10-2024)
  3. Án phí:
    • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • Bị cáo Phạm Minh Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Phạm Minh Q có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Phạm Minh Q có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Văn Thắng Nguyễn Hồng Đức Trần Mạnh Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 235/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pham Minh Quý - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger