|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 235/2024/HNGĐ-ST
Ngày 06 – 9 – 2024
Về việc xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Bẩy
- Ông Võ Thanh Liêm
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 377/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V. Sinh năm: 1989. (Có mặt)
Địa chỉ: Nhà không số, ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh Trần Văn N. Sinh năm: 1982. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số, ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị V trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Trần Văn N kết hôn năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 12/4/2007. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng gần đây phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong làm ăn, phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Quá trình chung sống có 02 người con chung tên Trần Văn T, sinh ngày 19/3/2008 và Trần Thị Như N1, sinh ngày 23/3/2018. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được nuôi cháu N1, đồng ý giao cháu T cho anh N nuôi, không đặt ra cấp dưỡng cho nhau.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Trần Văn N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh N đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng anh N vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn N đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Trần Văn N xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Nay chị V xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng với nhau và đã sống ly thân, cả hai không còn thực hiện nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N. Để tạo điều kiện cho chị V và anh N hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Tòa án triệu tập các đương sự đến Tòa án để tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng anh N vắng mặt không rõ lý do, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị V, không đến tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, việc này cho thấy anh N cũng không có tha thiết, mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị V kiên quyết xin ly hôn với anh N. Xét thấy, hôn nhân của chị V và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V về việc xin ly hôn với anh N.
[3] Về con chung: Chị V xác định quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trần Văn T, sinh ngày 19/3/2008 và Trần Thị Như N1, sinh ngày 23/3/2018. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được nuôi cháu N1, giao cháu T cho anh N nuôi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng cho nhau. Đối với anh N không có ý kiến đối với yêu cầu của chị V. Xét thấy yêu cầu của chị V phù hợp với nguyện vọng của cháu T nên được chấp nhận.
Chị V và anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị V xác định không có và không ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị V xác định không có và không ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị V xin ly hôn với anh Trần Văn N.
-
Về con chung: Giao con chung tên Trần Văn T, sinh ngày 19/3/2008 cho anh Trần Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao con chung tên Trần Thị Như N1, sinh ngày 23/3/2018 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không xem xét trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
Anh N, chị V không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng, ngày 24/6/2024, chị V nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008910 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ, chuyển thu ngân sách nhà nước.
Chị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 235/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 235/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
