Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Vũ Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Nguyễn Gia Phúc
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Trần Phương Ly

Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thái Ninh – Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 210/2024/HSST ngày 08/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: Lê Hoàng T - Sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: P6, G, nhà A, Tập thể thuốc lá T, phường T, quận T, Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Thành T1 – sinh năm 1979; Con bà: Nguyễn Thị Cẩm C – sinh năm 1980; A, chị, em ruột: Không; Vợ: Trần Thùy L – sinh năm 2002; Có 01 con sinh năm 2020; D chỉ bản số 267 lập ngày 04/4/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Vũ Thành S (sinh năm 1994; trú tại số E, ngõ B phố T, phường K, quận T, Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/02/2024, Lê Hoàng T đến cửa hàng bán đồ ăn nhanh tại địa chỉ số C phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội để xin việc làm và được anh Vũ Thành S (sinh năm 1994; trú tại số E, ngõ B phố T, phường K, quận T, Hà Nội – là chủ cửa hàng) tuyển dụng. Anh S thấy T có hiểu biết nên đã giao cho T công việc thiết kế danh sách đồ uống và mua một số máy móc phục vụ công việc pha chế đồ uống tại cửa hàng. Do bản thân đang nợ nần và thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh S. T nói với anh S là T có quen biết bên bán máy móc mà cửa hàng đang cần và có thể mua được với giá ưu đãi. Chiều cùng ngày, T tạo một tài khoản Zalo tên “Anna Nguyễn” và lập nhóm trên ứng dụng Zalo tên “Máy móc” gồm có T, anh S và tài khoản “Anna Nguyễn”. T giới thiệu cho anh S “Anna Nguyễn” là bên bán máy móc phục vụ pha chế đồ uống mà T quen biết. T dùng tài khoản “Anna Nguyễn” nhắn tin vào nhóm “Máy móc” và gửi thông tin 03 loại máy phục vụ pha chế đồ uống thì anh S tin tưởng và đồng ý mua. T sử dụng máy tính rồi tạo “Hoá đơn bán hàng kiêm bảo hành” đối với 03 máy: Combo máy pha cà phê Lacilio – L100 (máy pha 1 tay, máy xay Promix, máy lọc nước) với giá 25.880.000 đồng, máy xay Promix PM 911 với giá 2.780.000 đồng và máy ép chậm Promix PM 800 với giá 3.380.000 đồng. Tổng số tiền đối với 03 máy móc trên là 32.040.000 đồng. T dùng tài khoản “Anna Nguyễn” gửi hoá đơn vào nhóm “Máy móc” rồi yêu cầu anh S thanh toán số tiền mua máy vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thúy H (sinh năm 2000; trú tại số A, đường C, phường T, quận H, Hà Nội – là bạn gái của T). Sau khi anh S thanh toán số tiền mua máy móc như trong hoá đơn mà T gửi, T đã nhờ H đặt mua qua mạng 01 máy ép chậm nhãn hiệu Promix PM 800 với giá 4.800.000 đồng và 01 máy xay nhãn hiệu Promix PM 911 với giá 2.670.000 đồng cho cửa hàng với mục đích để tạo lòng tin với anh S. Số tiền còn lại thì T đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Do chưa có tiền mua được máy pha cà phê Lacilio – L100 (máy pha 1 tay, máy xay Promix, máy lọc nước) nên ngày 25/02/2024, T đi cùng H đến cửa hàng số A phố M, phường M, quận N, Hà Nội với mục đích mua 01 máy xay và máy pha cà phê mang về cửa hàng để tạo lòng tin với anh S. Tại đây, T mua 01 máy xay và máy pha cà phê của anh Phạm Văn T2 (sinh năm 1988; trú tại xóm A, thôn D, xã T, huyện Q, Hà Nội – là chủ cửa hàng) với giá 36.500.000 đồng. T đặt cọc trước tiền mua máy cho anh T2 là 3.000.000 đồng và hẹn sau khi lắp đặt xong sẽ chuyển trả nốt cho anh T2. Khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi đã lắp đặt xong máy tại cửa hàng bán đồ ăn nhanh tại địa chỉ số C phố T nhưng T vẫn chưa thanh toán nốt số tiền 33.500.000 đồng nên anh T2 yêu cầu T hoàn trả lại máy. T dùng thủ đoạn gian dối nói với anh S là máy có vấn đề nên mang đi sửa và hoàn trả lại máy khác rồi T thuê người vận chuyển chiếc máy trên về cho anh T2. Sau khi nhận lại được máy, anh T2 chuyển trả lại cho T số tiền 1.500.000 đồng, còn 1.500.000 đồng là tiền anh T2 trừ vào 03 ngày cửa hàng đã sử dụng máy. Thời gian này do lo sợ bị nghi ngờ nên T đã xin anh S nghỉ ốm để tránh mặt.

Ngoài lần phạm tội nêu trên, T còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh S như sau: Ngày 03/3/2024, T đến cửa hàng F địa chỉ số A phố H, phường T, quận C, Hà Nội để mua một số nguyên liệu pha chế với giá 3.852.000 đồng. T sử dụng ứng dụng “T3 tính” trên điện thoại di động để tạo 01 Phiếu giao hàng với tổng trị giá hàng hoá là 12.338.000 đồng. Sau đó, T gọi điện thuê Nguyễn Quang H1 (sinh năm 1998; trú tại P, N, chung cư Đ, phường T, quận H, Hà Nội) đến lấy số nguyên liệu mà T đã mua cùng tờ phiếu giao hàng do T đã tạo trước đó chuyển đến cho anh S với phí vận chuyển là 200.000 đồng. Tuy nhiên khi H1 giao hàng đến, anh S kiểm tra phát hiện số lượng hàng không đủ như trong phiếu giao hàng nên không thanh toán tiên cho H1. H1 liên lạc lại với T, T nói sẽ làm việc với chủ cửa hàng nên H1 đi về. T lúc này dùng thủ đoạn gian dối nói với anh S là đã nhận đủ số hàng còn thiếu và bảo anh S cứ thanh toán số tiền 12.338.000 đồng cho H1. Anh S tin tưởng và đã chuyển số tiền trên cho H1. Sau đó, H1 chuyển lại số tiên này cho T và T đã tiêu xài cá nhân hết. Anh S có liên lạc với T hỏi về máy móc và nguyên liệu nhưng T quanh co, né tránh. Sau đó, T không nghe máy và không đến cửa hàng của anh S nên anh S đã đến Cơ quan Công an trình báo nội dung sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng T đâu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, anh Vũ Thành S khai: Anh S đã chuyển cho T tổng số tiên là 44.378.000 đồng bao gồm tiên mua máy móc và nguyên liệu. Tuy nhiên trên thực tế, T mới chỉ mua cho anh S 01 máy xay Promix PM 911 với giá 2.670.000 đồng và 01 máy ép chậm Promix PM 800 với giá 4.800.000 đồng. Hiện cửa hàng của anh S vẫn đang sử dụng 02 chiếc máy trên, anh S từ chối giao nộp máy cho Cơ quan điều tra và không có ý kiến gì về 02 chiếc máy này theo như giá máy thực tế mà T đã mua. Đối với số nguyên liệu mà ngày 03/3/2024 T chuyển đến cho anh S, anh S đã sử dụng hết số nguyên liệu này. Sau đó, anh S được T thông báo giá trị thực tế của số nguyên liệu trên mà T đã mua là 3.852.000 đồng. Anh S đã đồng ý với giá nguyên liệu thực tế như T thông báo.

Đối với Nguyễn Thúy H, tại Cơ quan điều tra, H khai: H là người yêu của Lê Hoàng T nên khi T nhờ H nhận hộ tiên qua tài khoản ngân hàng của H thì T nói đây là tiên của T thiết kế và mua máy móc cho cửa hàng cà phê. H không biết, không liên quan đến việc T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Thành S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H.

Đối với Nguyễn Quang H1, tại Cơ quan điều tra, H1 khai: H1 và Lê Hoàng T có mối quan hệ quen biết nhau nên khi T nhờ H1 vận chuyển hàng cho T, H1 đồng ý. Sau khi nhận được tiên của khách, H1 đã chuyển trả lại toàn bộ tiền cho T. H1 không biết, không liên quan đến việc T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Thành S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H1.

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Hoàng T đồ vật, tài sản gồm: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh lá.

Trách nhiệm dân sự:

Anh Vũ Thành S yêu câu Lê Hoàng T bồi thường số tiên 33.056.000 đồng bao gồm 24.570.000 đồng là tiên mua máy pha cà phê Lacilio – L100 (máy pha 1 tay, máy xay Promix, máy lọc nước) và 8.486.000 đồng là tiên chênh lệch nguyên liệu.

Cáo trạng số 212/CT-VKSĐĐ ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điêu 174 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 174 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điêu 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung công Quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu xanh lá, điện thoại đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bôi thưởng cho anh Vũ Thành S số tiên 33.056.000 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điêu tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người bị hại đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc vắng mặt bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng tới việc xét xử nên căn cứ Điều 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Vê tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng. Căn cứ vào các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do cần tiền tiêu sài và trả nợ, từ ngày 21/02/2024 đến ngày 03/3/2024 tại địa chỉ C phố T, phường T, quận Đ, tp Hà Nội, Lê Hoàng T đã tạo tài khoản Zalo giả và hoá đơn bán hàng giả nhằm tạo lòng tin đối với anh Vũ Thành S để 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Thành S; Cụ thể: Lần 1 T chiếm đoạt tiền mua máy pha cà phê của anh S với số tiền 24.570.000 đồng, lần 2 T chiếm đoạt tiền mua nguyên liệu pha chế là 8.486.000 đồng. Tổng số tiền mà T chiếm đoạt là 33.056.000 đồng. ( ba mươi ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Lê Hoàng T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điêu 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lười lao động, thích có tiền để hưởng thụ tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điêu 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đâu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Vũ Thành S số tiên 33.056.000 đông. (Ba mươi ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone13 màu xanh lá thu giữ của bị cáo, đây là là tài sản của bị cáo dùng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thúy H, tại Cơ quan điều tra, H khai: H là người yêu của Lê Hoàng T nên khi T nhờ H nhận hộ tiên qua tài khoản ngân hàng của H thì T nói đây là tiên của T thiết kế và mua máy móc cho cửa hàng cà phê. H không biết, không liên quan đến việc T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Thành S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H nên HĐXX không xem xét.

Đối với Nguyễn Quang H1, tại Cơ quan điều tra, H1 khai: H1 và Lê Hoàng T có mối quan hệ quen biết nhau nên khi T nhờ H1 vận chuyển hàng cho T, H1 đồng ý. Sau khi nhận được tiên của khách, H1 đã chuyển trả lại toàn bộ tiền cho T. H1 không biết, không liên quan đến việc T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Thành S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H1 nên HĐXX không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyên kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điêu 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; điểm g khoản 1 Điêu 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo: Lê Hoàng T 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.

  3. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điêu 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    - Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu xanh lá, điện thoại đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong.

    Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 266 ngày 24/7/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

  5. Vê trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điêu 48 Bộ luật hình sự.

    - Buộc bị cáo Lê Hoàng T phải bồi thường cho anh Vũ Thành S số tiền 33.056.000 đồng. (Ba mươi ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

    - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyên có đơn yêu câu thi hành án, nếu bị cáo Lê Hoàng T chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi suất đối với số tiên chậm trả theo quy định tại các Điêu 357, Điêu 468 Bộ luật dân sự 2015.

    - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Án phí và quyền kháng cáo:

    Áp dụng: Điêu 135, Điêu 136, Điêu 331, Điêu 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    - Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

    Bị cáo Lê Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 1.652.800 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 235/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger