|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 235/2024/DS-PT Ngày: 16/9/2024 “V/v tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán: Bà Trương Tổ Hương
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 09/2023/TLPT-DS ngày 12/01/2023, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 45/2023/QĐ-PT ngày 03/3/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đ; Sinh năm 1963; Địa chỉ: Số D Quốc lộ A, Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lý Bình Đ1; Sinh năm 1973; Địa chỉ: Số C, đường N, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 23/3/2021) (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trương Bá T; Sinh năm 1962; Địa chỉ: Số C, đường V, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị kim O; Địa chỉ: Số C, đường V, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 03/10/2022) (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trương Bá T là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2021 của nguyên đơn bà Lê Thị Đ và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lý Bình Đ1 trình bày:
Ông Trương Bá T và bà Lê Thị Đ là vợ chồng nhưng đã được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007. Tại quyết định này ghi nhận sự thỏa thuận của ông Trương Bá T và bà Lê Thị Đ về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong phần tài sản chung đối với thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T, mỗi bên có cùng diện tích 361,5m². Cụ thể: Ông T được chia 361,5m² đất 2L trong thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T (ông T nhận phần diện tích đất bên hướng đông). Bà Đ được chia 361,5m² đất 2L trong thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T (bà Đ nhận phần diện tích đất bên hướng tây).
Phần đất sau khi thỏa thuận phân chia thì bà Đ có trồng cây trên đất và giao cho con là Trương Thị Diễm T1 trông coi. Nay bà Đ muốn sang tên tách thửa đối với phần đất của bà được phân chia nhưng ông Trương Bá T không đồng ý giao đất. Do hết thời hiệu yêu cầu thi hành án nên bà không thể yêu cầu thi hành án đề thi hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007.
Do đó phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trương Bá T giao trả cho bà Đ phần đất có diện tích 361,5m² thuộc thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn đồng ý căn cứ theo số đo diện tích thực tế của phần đất theo ranh cấp giấy hiện nay. Phía nguyên đơn xác định lại chỉ yêu cầu bị đơn ông Trương Bá T trả lại phần đất có diện tích 341,4m². Phần đất có vị trí, tứ cận như sau:
Phía bắc giáp Phan Văn H có số đo: 19,25m;
Phía nam giáp Trương Thị Xuân M có số đo: 10,68m, giáp Trương Bá T có số đo 2,87m + 5,68m;
Phía tây giáp Trần Trung K có số đo: 8,90m, giáp Tào Xiếu T2 và Đinh Bạch D có số đo 8,41m;
Phía đông giáp Trương Bá T có số đo: 16,65m + 1,58m;
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Trương Bá T trình bày:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007 ghi nhận sự thỏa thuận của ông Trương Bá T và bà Lê Thị Đ về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong phần tài sản chung đối với thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T, mỗi bên có cùng diện tích 361,5m². Cụ thể: Ông T được chia 361,5m² đất 2L trong thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T (ông T nhận phần diện tích đất bên hướng đông). Bà Đ được chia 361,5m² đất 2L trong thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T (bà Đ nhận phần diện tích đất bên hướng tây).
Tuy nhiên, phần đất sau khi được phân chia do bà Đ không yêu cầu Thi hành án nên đã hết thời hiệu, hiện nay do ông T quản lý sử dụng và ông có xây dựng một nền nhà trên phần đất.
Nay ông T cũng đồng ý chia cho bà Đ ½ diện tích phần đất tại thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m², tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, ông không đồng ý giao cho bà Đ vị trí phần đất trước đây đã thỏa thuận mà yêu cầu chia lại vị trí phần đất theo hướng bắc và hướng nam, ông nhận phần đất vị trí hướng nam và giao cho bà Đ phần đất theo hướng bắc. Cụ thể phần đất ông T nhận có vị trí như sau: Phía bắc giáp Trương Bá T; Phía nam giáp Trương Thị Xuân M, Trương Bá T và Nguyễn Xuân L; Phía đông giáp Nguyễn Xuân L và mương nước; Phía tây giáp Trần Trung K. Giao cho bà Đ nhận ½ diện tích đất còn lại.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 244, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 và Án lệ số 50/2021/AL về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Buộc ông Trương Bá T giao trả cho bà Lê Thị Đ phần đất có diện tích 341,4m² thuộc thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T. Phần đất có vị trí, tứ cận như sau:
Phía bắc giáp Phan Văn H có số đo: 19,25m;
Phía nam giáp Trương Thị Xuân M có số đo: 10,68m, giáp Trương Bá T có số đo 2,87m + 5,68m;
Phía tây giáp Trần Trung K có số đo: 8,90m, giáp Tào Xiếu T2 và Đinh Bạch D có số đo 8,41m;
Phía đông giáp Trương Bá T có số đo: 16,65m + 1,58m;
(có sơ đồ kèm theo)
Buộc ông Trương Bá T phá dỡ nền nhà được xây dựng trên phần đất của bà Đ được phân chia có diện tích 9,4m², vị trí: Phía nam giáp Trương Bá T có số đo 5,68m; phía bắc giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 5,60m; phía đông giáp Trương Bá T có số đo 1,58m; phía tây giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 1,74m; có kết cấu nền xây tường gạch (mới đỗ xong giàn đà).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
* Ngày 10/10/2022, bị đơn ông Trương Bá T nộp đơn kháng cáo trực tiếp đến Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Trương Bá T thay đổi kháng cáo cụ thể như sau: Ông Yêu cầu chia lại phần đất theo hướng Bắc, N và ông nhận phần diện tích đất hướng Nam; việc ông xây nền nhà (phần 4,9m²) là xây dựng trên phần đất thuộc thửa số 125, tờ bản đồ 01 của ông chứ ông không có lấn qua phần đất bà Đ được nhận tại thửa số 473 và xin miễn án phí. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo đề ngày 10/10/2022 do bị đơn ông Trương Bá T gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng ngày 11/10/2022 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn thay đổi kháng cáo nhưng việc thay đổi kháng cáo của bị đơn không vượt quá kháng cáo ban đầu nên hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
[2] Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị đơn ông Trương Bá T có yêu cầu đo đạc lại các phần đất tại thừa số 125, thừa 473 tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã ra thông báo yêu cầu bị đơn đóng tiền tạm ứng chi phí đo đạc là 11.402.063 đồng nhưng bị đơn đóng không đầy đủ chỉ đóng được 3.968.500 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu đo đạc lại của bị đơn và căn cứ vào kết quả đo đạc của cấp sơ thẩm làm căn cứ giải quyết vụ án. Bị đơn được nhận lại 3.968.500 đồng, theo phiếu thu số 248 GĐ, ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. (Nhận tại bộ phận kế toán của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng).
[3] Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn và bị đơn thống nhất tài sản là phần đất tại thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m² (diện tích đo đạc thực tế là 702,6m²), tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông T và bà Đ. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007 thì tài sản này đã được thỏa thuận phân chia cho ông T và bà Đ mỗi người được nhận diện tích 361,5m² (diện tích thực tế yêu cầu theo đo đạc là 341,4m²). Sau khi có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007 thì ông T đã giao phần đất mà bà Đ được hưởng, bà Đ đã sử dụng trồng cây trên đất và giao cho con là Trương Thị Diễm T1 trông coi phần đất. Nhưng khi bà yêu cầu ông T tiến hành ký tên để tách quyền sử dụng đất thì ông T không đồng ý. Ngoài ra, ông T có xây dựng một nền nhà lấn sang phần đất của bà Đ có diện tích là 9,4m². Vì vậy căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 và Án lệ số 50/2021/AL về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao từ đó cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Bá T giao trả cho bà Lê Thị Đ phần đất có diện tích 341,4m² thuộc thửa đất số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T và buộc ông Trương Bá T phá dỡ nền nhà được xây dựng trên phần đất của bà Đ được phân chia có diện tích 9,4m² là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu chia lại phần đất theo hướng Bắc, N và ông nhận phần diện tích đất hướng N. Xét thấy, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận các đương sự số 14/2007/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2007 của Tòa nhân dân thành phố S, phần đất tại thửa số 473 (nay là thửa số 77), tờ bản đồ số 01, diện tích 723,0m² (diện tích đo đạc thực tế là 702,6m²), tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T thì tài sản này đã được thỏa thuận phân chia cho ông T và bà Đ mỗi người được nhận diện tích 361,5m², ông T đã giao phần đất này cho bà Đ, bà Đ cũng đã quản lý, sử dụng, trồng cây trên đất và giao cho con là Trương Thị Diễm T1 trông coi phần đất này. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa phía nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận phần đất mà bà Đ được nhận ở hướng tây theo quyết định của Tòa án là phần đất có vị trí, số đo như bà Đ yêu cầu. Còn ông T nhận được phần đất phía đông trong thửa đất. Nay ông T yêu cầu chia lại phần đất theo hướng Bắc, N và ông nhận phần diện tích đất hướng N. Tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý theo yêu cầu này của ông T nên kháng cáo của bị đơn ông Trương Bá T là không có căn cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của bị đơn về việc ông xây nền nhà (phần 4,9m²) là xây dựng trên phần đất thuộc thửa số 125, tờ bản đồ 01 của ông chứ ông không có lấn qua phần đất bà Đ được nhận tại thửa số 473. Xét thấy, căn cứ theo sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 24/01/2022 (BL 40) thì phần nền nhà ông T xây dựng trên phần đất của bà Đ được phân chia tại thửa số 473 có diện tích 9,4m², vị trí: Phía nam giáp ông Trương Bá T có số đo 5,68m; phía bắc giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 5,60m; phía đông giáp ông Trương Bá T có số đo 1,58m; phía tây giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 1,74m. Nên kháng cáo của ông là không có căn cứ Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Trương Bá T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng ông T là người cao tuổi nên được miễn.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Trương Bá T.
* Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 244, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 và Án lệ số 50/2021/AL về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
Buộc ông Trương Bá T giao trả cho bà Lê Thị Đ phần đất có diện tích 341,4m² thuộc thửa đất số 473 (nay là thừa số 77), tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0058/QSDĐ ngày 12/3/1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cho hộ Trương Bá T. Phần đất có vị trí, tứ cận như sau:
Phía bắc giáp Phan Văn H có số đo: 19,25m;
Phía nam giáp Trương Thị Xuân M có số đo: 10,68m, giáp Trương Bá T có số đo 2,87m + 5,68m;
Phía tây giáp Trần Trung K có số đo: 8,90m, giáp Tào Xiếu T2 và Đinh Bạch D có số đo 8,41m;
Phía đông giáp Trương Bá T có số đo: 16,65m + 1,58m;
(có sơ đồ kèm theo)
Buộc ông Trương Bá T phá dỡ nền nhà được xây dựng trên phần đất của bà Đ được phân chia có diện tích 9,4m², vị trí: Phía nam giáp Trương Bá T có số đo 5,68m; phía bắc giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 5,60m; phía đông giáp Trương Bá T có số đo 1,58m; phía tây giáp phần đất của bà Lê Thị Đ có số đo 1,74m; có kết cấu nền xây tường gạch (mới đỗ xong giàn đà).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trương Bá T được miễn án phí.
- Bà Lê Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.500.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0007670 ngày 08/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
Về chi phí tố tụng: Ông Trương Bá T phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp với số tiền 20.000.000 đồng. Do bà Lê Thị Đ đã nộp tạm ứng chi chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp với số tiền 20.000.000 đồng. Ông T có nghĩa vụ trả cho bà Đ khoản tiền này.
Bị đơn ông Trương Bá T được nhận lại 3.968.500 đồng, tiền tạm ứng chi phí thẩm định trong giai đoạn phúc thẩm theo phiếu thu số 248 GĐ, ngày 06/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. (Nhận tại bộ phận kế toán của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng)
* Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Bá T được miễn án phí phúc thẩm.
* Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
* Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 235/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 235/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Đ- Trần Thanh T
