|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 235/2025/ HNGĐ-ST Ngày: 18 - 12 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đức Lợi
- Bà Hoàng Lệ Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở chính Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 503/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1979; thường trú: Tổ D, khu E, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Ngọc Đ, sinh năm 1980; thường trú: Tổ D, khu E, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số D, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu chị Nguyễn Thị Mộng T và anh Phan Ngọc Đ tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74/2006 ngày 29/8/2006, việc kết hôn là tự nguyện, không ai ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, cả hai bên đều không có sự tin tưởng, chia sẻ với nhau, ngược lại thường xuyên gây tổn thương cho nhau dẫn đến cả hai không hàn gắn được tình cảm. Hiện nay, mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau nên năm 2022 anh Đ đã bỏ gia đình ra thuê trọ sống riêng cho đến nay và không có liên lạc, không có tới lui thăm con. Nay chị Nguyễn Thị Mộng T yêu cầu được ly hôn với anh Phan Ngọc Đ.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Phan Đăng K, sinh ngày 20/3/2007. Do con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Phan Ngọc Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ thống nhất với lời khai của chị T về thời gian tìm hiểu, quá trình chung sống. Về mâu thuẫn vợ chồng thì thời gian gần đây vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vấn đề kinh tế, ngoài ra anh Đ thấy chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nên anh Đ mới bỏ ra ở riêng, tránh vợ chồng xảy ra bất đồng. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng nay đã không còn, chỉ còn tình nghĩa với nhau, tuy nhiên anh Đ chỉ đồng ý ly hôn nếu chị T và anh thống nhất được việc phân chia tài sản chung của vợ chồng.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Phan Đăng K, sinh ngày 20/3/2007. Do con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tại phiên tòa anh Đ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng T. Đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung, tại phiên tòa anh Đ mới yêu cầu Tòa án giải quyết và cũng không xác định được cụ thể tài sản chung là gì nên căn cứ Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu của anh Đ sẽ không được xem xét trong vụ án này, nếu có tranh chấp anh Đ có thể khởi kiện bằng một vụ án khác để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phan Ngọc Đ nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đ có nơi cư trú tại địa chỉ: Số D, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mộng T và anh Phan Ngọc Đ tự nguyện sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74/2006 ngày 29/8/2006 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Xét về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng T thấy rằng: Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi. Bản thân anh Đ cũng xác định tình cảm vợ chồng nay đã không còn, chỉ còn tình nghĩa với nhau, do chị T nộp đơn đột ngột nên anh cần thêm thời gian suy nghĩ, anh Đ cũng không đưa ra được bất kỳ phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác anh Đ và chị T đã sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Đ đã lâu, cả hai không có giải pháp nào để khắc phục, tình cảm ngày càng phai nhạt và hiện nay đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Đăng K, sinh ngày 20/3/2007. Do con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh Đ không có yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung, tại phiên tòa anh Đ mới yêu cầu Tòa án giải quyết và cũng không xác định được cụ thể tài sản chung là gì nên căn cứ Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu của anh Đ sẽ không được xem xét trong vụ án này, nếu có tranh chấp anh Đ có thể khởi kiện bằng một vụ án khác để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Nguyễn Thị Mộng T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng T về việc ly hôn với bị đơn anh Phan Ngọc Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với anh Phan Ngọc Đ (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74/2006 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 29/8/2006).
- Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007885 ngày 06/8/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
5
Bản án số 235/2025/ HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 235/2025/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
