|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 235/2025/DS-PT Ngày: 18/12/2025 V/v: “Tranh chấp quyền về lối đi qua" |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Thật và bà Trần Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Quân - Thư ký viên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2025/TLPT- DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc : “Tranh chấp Quyền về lối đi qua”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS- ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, Khánh Hoà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 250/2025/QĐ – PT ngày 18/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Đình T, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trầm Thị T1, sinh năm 1972 (có mặt)
- Ông Huỳnh Đình T2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Trần T3, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Phan Thị N1, sinh năm 1946 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1953 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Lê H1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964 (có mặt)
- Bà Lê Thị P, sinh năm 1991(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Khánh Hòa.
- Cháu Lê Xuân M, sinh năm 2006 (vắng mặt)
- Cháu Lê Nhật Q, sinh năm 2009 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện hợp pháp của cháu Q: Ông Lê Văn N, sinh năm 1984 (có mặt).
- Ông Lê Bá T4, sinh năm 1976 (có mặt)
- Bà Trầm Thị T5, sinh năm 1979 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Đình T kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Đình T trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 76 tờ bản đồ 10 bản đồ địa chính xã N nay là xã T do ông Lê Văn H khai hoang và chuyển nhượng cho ông Trần Thâm . Năm 2000, ông T3 chuyển nhượng cho mẹ vợ ông là bà Phan Thị N1 nhưng chưa làm giấy tờ sang tên. Năm 2001, bà N1 tặng cho vợ chồng nên cất nhà ở ổn định, xung quanh có làm hàng rào lưới B40 sử dụng cho đến nay. Hiện nay ông đứng tên sổ mục kê thửa đất 76. Phía trước thửa đất của vợ chồng ông là thửa đất 139 tờ bản đồ 10 của ông Lê Văn N do ông Lê Hiếu T6 cho. Từ khi ông được tặng cho đất cất nhà ở thì có con đường đi từ thửa đất của ông băng qua thửa đất của ông N. Năm 2023, ông N dùng cây chắn cổng không cho gia đình ông sử dụng con đường đi. Hiện trạng trên đất không có con đường đi và không có rào dậu ngăn cách.
Ông thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 175/2024 ngày 25/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã N thể hiện diện tích con đường tranh chấp là 222,8 m². Nay ông khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Văn N tháo dỡ cây chắn ngang trả lại lối đi vào thửa đất 76 tờ bản đồ số 10, xã T có diện tích 222,8 m² để làm lối đi vào nhà ông.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn N trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 139 tờ bản đồ 10, xã N (nay là xã T, tỉnh Khánh Hòa) do cha ông là ông Lê H1 khai hoang năm 1990 và tặng cho ông năm 2004. Năm 2013, ông đăng ký kê khai và ngày 04/5/2015, Ủy ban nhân dân thị xã N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 709846 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06583, diện tích 6890,7 m². Sau đó, ông thực hiện thủ tục tách thửa 139, chuyển nhượng và tặng cho em gái Lê Thị P thửa đất 1002 (nhưng làm thủ tục chuyển nhượng) còn ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1001. Bà P vẫn để thửa đất trống không trồng trọt, xây dựng gì, còn trên thửa đất 1001 thì cha mẹ xây căn nhà cấp 4 hiện ông và hai con đang ở.
Ranh giới giữa thửa đất 76 và 139 là bờ ruộng. Từ khi ông được cho đất thì ông T vẫn đi nhờ băng qua đất của ông nên không có ranh giới, hàng rào đối với đường đi. Về mảnh trích đo địa chính và biên bản định giá thì ông không có ý kiến gì, con đường tranh chấp có chiều dài 222,8 m² thuộc thửa đất 1001 và một phần thửa đất 1002. Hiện nay, gia đình ông T đang sử dụng con đường đi cạnh bờ mương phía sau nhà để ra đường ngắn và thuận lợi hơn nên ông không đồng ý cho đi nhờ qua phần đất nữa. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông hoàn toàn không đồng ý vì không có con đường đi nào mà phần đất tranh chấp là con đường tự mở thuộc thửa đất của ông.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H trình bày:
Ông có khai hoang một lô đất ở T, N nay là T, Khánh Hòa. Ông khai hoang năm 1976 đến năm 1991 sang nhượng cho ông Trần T3 sau đó ông T3 sang lại cho ai thì ông không rõ. Lúc khai hoang có con đường đi.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1 trình bày:
Bà là mẹ của bà Trầm Thị T1, nguồn gốc thửa đất 76 do ông Trần T3 chuyển nhượng cho bà. Năm 2001, bà tặng cho thửa đất cho vợ chồng con gái Huỳnh Đình T và Trầm Thị T1 và vợ chồng cất nhà ở từ đó. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không có ý kiến gì và xin vắng mặt quá trình tố tụng tại Tòa án vì già yếu.
Quá trình tố tụng và tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần T3 và bà Lê Thị Kim P trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 76 tờ bản đồ số 10 xã N (trước đây là thửa đất 190, 191, 192 tờ bản đồ số 3 bản đồ địa chính xã N năm 1995) do ông Lê Văn H khai hoang không có giấy tờ. Năm 1997, vợ chồng mua đất của ông H và đăng ký kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999. Năm 2000, vợ chồng chuyển nhượng thửa đất cho bà Trần Thị N2, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Sau đó bà N2 tặng cho vợ chồng con gái.
Thời điểm vợ chồng mua đất của ông H là thửa đất hoang không có con đường đi nên phải băng qua đất của ông Lê H1 đi, cũng không có con mương phía sau, sau này họ mới đào như hiện trạng. Hiện nay các hộ dân đang sử dụng đường đi cạnh bờ mương để ra đường. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông bà không có liên quan đến thửa đất nên không có ý kiến gì.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê H1, bà Nguyễn Thị K trình bày:
Ông bà là cha mẹ đẻ của ông Lê Văn N. Nguồn gốc thửa đất 139 do ông khai hoang năm 1990 và tặng cho N năm 2004. Năm 2013, ông Lê Văn N đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/5/2015. Trên đất ông bà cất một ngôi nhà cấp 4 cho N ở, còn vợ chồng sống tại nhà khác nhưng vẫn qua lại giữa hai nhà trông nom. Sau đó, Lê Văn N thực hiện thủ tục tách thửa, chuyển nhượng và tặng cho em gái Lê Thị P thửa đất 1002 còn Nghĩa quản lý sử dụng thửa đất 1001.
Nguồn gốc thửa đất 76 của gia đình ông Huỳnh Đình T do anh trai là ông Lê Văn H khai hoang và chuyển nhượng cho ông Trần T3 sau đó ông T3 chuyển nhượng cho mẹ vợ ông T. Gia đình ông sinh sống cất nhà trên thửa đất 139 trước gia đình ông T, khi nhà ông T được mẹ vợ cho đất cất nhà ở thì đi nhờ qua phần đất của gia đình ông để ra đường cho thuận tiện. Hiện nay gia đình nguyên đơn vẫn sử dụng được con đường đất cạnh bờ mương để ra đường nên không đồng ý cho đi nhờ qua phần đất nữa. Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì con đường này không phải của nhà nước mà thuộc phần đất của con trai ông Lê Văn N.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P trình bày:
Bà là con của ông Lê H1 và bà Nguyễn Thị K. Hiện tại đang sống cùng cha mẹ. Nguồn gốc thửa đất 139 là do ông Lê H1 khai hoang và tặng cho anh trai Lê Văn N năm 2004. Ông N tiến hành kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/5/2015. Sau đó ông N chuyển nhượng phần đất cho ông Nguyễn T9 và tặng cho bà phần đất nhưng làm thủ tục chuyển nhượng. Hiện nay bà đứng tên chủ quyền sử dụng thửa đất 1002 tờ bản đồ số 10 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/4/2024. Từ nhỏ gia đình bà chung sống tại thửa đất do ông N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa 1001) thì bà thấy ông T đi nhờ qua phần đất của gia đình để ra đường cho thuận tiện. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý vì con đường tranh chấp có đi qua thửa đất 1002 của bà diện tích 26,4 m² nhưng đây là phần đất gia đình cho đi nhờ chứ không phải đường đi của nhà nước. Gia đình ông T vẫn có thể sử dụng con đường phía sau nhà để ra đường cho thuận tiện sinh hoạt.
Quá trình tố tụng và tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Bá T4 và bà Trầm Thị T7 trình bày:
Ông bà có mối quan hệ là em ruột của bà Trầm Thị T7 (vợ của nguyên đơn). Vào năm 2000, ông bà có mua thửa đất của ông Lê H1 tại xã N, thị xã (nay là xã T, tỉnh Khánh Hòa) để cất nhà ở. Khi mua đất có con đường đi vào băng qua đất của ông N và sử dụng chung với gia đình ông T để ra đường cho thuận tiện. Gia đình ông và gia đình ông T đi trực tiếp con đường này để ra đường chính nhưng không có rào dậu vì nghĩ con đường có từ lâu. Năm 2014, ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 21 tờ bản đồ số 10. Năm 2023, ông Lê Văn N chặn lại không cho đi, hiện gia đình ông và gia đình ông T đang sử dụng con đường đi phía sau bờ mương. Con đường này men theo bờ mương nên chiều rộng nhỏ sau đó có ông T8 (chỉ biết tên không rõ họ, địa chỉ) mua đất của ông N và mở rộng con đường đi rộng 2-2,5 mét. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông bà không đồng ý vì con đường đi này đã tồn tại hơn 30 năm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS- ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, Khánh Hoà quyết định:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 26, 29, 31 Luật đất đai 2024; Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn tháo dỡ cây chắn ngang trả lại lối đi vào thửa đất 76 tờ bản đồ số 10 có diện tích 222,8 m² tọa lạc tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (nay là thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa) (Theo Mảnh trích đo địa chính số 175/2024 ngày 25/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án, quyền, nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03/10/2025 Ông Huỳnh Đình T làm đơn trình bày gửi Toà án, trong đó có nội dung xin được xem xét lại và chấp nhận cho yêu cầu khởi kiện. Do đơn chưa rõ ràng về tiêu đề và nội dung nên tại biên bản ghi lời khai ngày 09/10/2025 ông T xác định ông kháng cáo, Toà án đã ra thông báo cho ông sửa đổi đơn kháng cáo và ngày 13/10/2025 ông T nộp lại Đơn kháng cáo theo mẫu quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được Toà án khu vực 4 chấp nhận đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS- ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Khánh Hoà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Đình T nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ và được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đầy đủ quan hệ pháp luật: “Tranh chấp quyền về lối đi qua” và vụ án thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 4 là phù hợp theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Về sự tham gia tố tụng của đương sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
2. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Đình T, nhận thấy:
[2.1] Theo Biên bản thẩm định và Tại Mảnh trích đo địa chính số 175/2024 ngày 25/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N xác định: đất tranh chấp lối đi có diện tích 222,8 m² trong đó: diện tích 196,4 m² thuộc thửa 1001 và diện tích 26,4 m² thuộc thửa 1002. Thửa 76 ở phía sau thửa 1001, 1002 của ông Lê Văn N, bà Lê Thị P.
Quá trình thu thập chứng cứ xác định:
Ông Huỳnh Đình T đang sử dụng thửa đất số 76 tờ bản đồ 10 với diện tích 1.082 m². Nguồn gốc đất do ông Lê Văn H khai hoang năm 1976 và chuyển nhượng cho ông Trần T3 và bà Lê Thị Kim P. Ngày 04/12/1997, ông Trần T3 và bà Lê Thị Kim P tiến hành đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2000, ông T3 chuyển nhượng cho bà Phan Thị N1 (mẹ vợ ông Huỳnh Đình T) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện tại theo bản đồ VN-2000 là thửa 76 tờ bản đồ 10 với diện tích 1.082 m² do ông Huỳnh Đình T kê khai và đứng tên sổ mục kê.
Ông Lê Văn Nghĩa L chủ sử dụng thửa đất 139 tờ bản đồ số 10 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BV 709846 cấp ngày 04/5/2015, nguồn gốc do cha ông Lê H1 khai hoang năm 1990 và tặng cho ngày 02/5/2004. Ông N thực hiện thủ tục tách thửa năm 2022 thành thửa 989, 990 đến năm 2023 thửa đất 989 được tách thành các thửa 993, 994, 995. Năm 2024, thửa 993 tờ bản đồ 10 tách thành 2 thửa là thửa 1001 và 1002, trong đó: thửa 1001 diện tích 3.260,9 m² do ông Lê Văn N đứng tên quyền sử dụng đất số DO895393 cấp ngày 16/4/2024, thửa 1002 do bà Lê Thị P đứng tên quyền sử dụng đất.
Tại công văn số 232/UBND ngày 26/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã N (nay là Ủy ban nhân dân xã T) cung cấp : “...Theo hồ sơ địa chính (bản đồ năm 1995, bản đồ VN-2000 bản đồ địa chính xã N) thì thửa 139, 76 tờ bản đồ 10 không thể hiện đường”.
Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần T3, bà Lê Thị Kim P mà người nhận chuyển quyền sau này là ông Huỳnh Đình T và giấy chứng nhận cấp cho ông Lê Văn N, bà Lê Thị P thể hiện tiếp giáp xung quanh có các đường bờ đất và không có con đường đi nào ngang qua thửa đất 1001 và 1002, phù hợp lời khai chủ đất cũ của thửa đất 76 là ông Trần T3 khai nhận: “Trước đây khi khai hoang là vùng đất trống không có đường đi nên đi băng qua đất của ông H1 sau này người dân đi tạo thành đường mòn”. Theo lời khai người làm chứng ông Lê Bá T4, bà Lê Thị Minh H2, ông Nguyễn Viết T9, ông Đào Đức H3 đều xác nhận quá trình sử dụng trước đây hộ ông Lê H1 có chừa một lối đi nhỏ thuộc một phần diện tích của thửa 139 cho các hộ dân phía sau sử dụng thuận tiện trong đi lại. Ông T cho rằng đây là lối đi chung nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy không có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Theo kết quả xác minh ngày 29/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã N cung cấp : “Hiện trạng thửa đất 1001 theo mảnh trích đo địa chính 175/2024; thửa đất 1002 tờ bản đồ số 10 tại N không có con đường đi vào thửa đất 76. Hiện trạng thửa đất 76 tờ bản đồ 10 phía Bắc có một con mương, bờ đất rộng 2-2,5 mét”.
Tại phiên tòa, các bên đều thừa nhận “ Đến năm 2023 ông N rào lại không cho sử dụng nên người dân sử dụng đường đất bên cạnh con mương về phía bắc của gia đình ông T để đi ra đường công cộng, con đường này ngắn và thuận lợi hơn”. Như vậy, hiện trạng sử dụng đất hiện nay của thửa 76 tờ bản đồ số 10 có lối đi và không bị vây bọc hoàn toàn bởi các thửa đất liền kề. Hiện tại ông T đã không còn di chuyển trên lối đi này mà sử dụng một lối đi khác ra đường và lối đi đang tranh chấp không phải là con đường duy nhất để ra đường công cộng. Việc mở lối đi sẽ ảnh hưởng lớn đến chủ sử dụng đất và không đảm bảo nguyên tắc “lối đi được mở phải là lối đi thuận tiện nhất, hợp lý nhất và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi” theo Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T là có căn cứ. Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp, tài liệu chứng cứ gì mới nên kháng cáo không được chấp nhận.
Từ những phân tích như trên, ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS- ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Khánh Hoà.
3. Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, mảnh trích đo địa chính và định giá tài sản số tiền 8.000.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên ông T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng và đã nộp đủ.
4. Về án phí:
- -Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên ông Huỳnh Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- -Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Huỳnh Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Các Điều 6, Khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 254 Bộ luật dân sự 2015; Điều 11, Điều 26, Điều 29, Điều 31 Luật đất đai năm 2024; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Đình T; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS- ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Khánh Hoà. Cụ thể như sau:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Đình T đối với bị đơn ông Lê Văn N về việc: “Tranh chấp quyền về lối đi qua” đối với yêu cầu: Buộc ông Lê Văn N tháo dỡ cây chắn ngang trả lại lối đi vào thửa đất 76 tờ bản đồ số 10 xã N (nay là xã T, tỉnh Khánh Hòa) có diện tích 222,8 m² Theo Mảnh trích đo địa chính số 175/2024 ngày 25/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
(Có Trích đo kèm theo)
- Chi phí tố tụng:
Ông Huỳnh Đình T phải chịu chi phí thẩm định, định giá và Trích lục bản đồ và đã nộp đủ.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Đình T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005399 ngày 08/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa (nay là thi hành án dân sự Khu vực 4 - Khánh Hoà).
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Đình T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002589 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hoà
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 235/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ về tranh chấp quyền về lối đi qua
- Số bản án: 235/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền về lối đi qua
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huynh Dinh T - Le Van N
