Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 235/2025/DS-PT

Ngày: 02-4-2025

V/v “Tranh chấp chia thừa kế”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán: Ông Chu Tuấn Anh
Bà Đặng Mai Hoa

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương -Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.


Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2024TLPT-DS ngày 22/10/2024 về việc "Tranh chấp chia thừa kế".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 136/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2025/QĐ-PT ngày 06/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Gia H, sinh năm 1985; Có mặt.

Địa chỉ: Số A ngõ A L, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Hoàng Thị Hải H1, sinh năm 1982; Có mặt.

Địa chỉ: Số C ngõ A L, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A ngõ A L, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là anh Hoàng Gia H và bị đơn là chị Hoàng Thị Hải H1.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, anh Hoàng Gia H trình bày:

Về quan hệ huyết thống: Bố anh là ông Hoàng H4, sinh năm 1950 mất năm 2022, mẹ anh là bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1959. Bố mẹ anh sinh được 02 người con là chị Hoàng Thị Hải H1, sinh năm 1982 và anh là Hoàng Gia H, sinh năm 1985. Ngoài hai người con nêu trên bố mẹ anh không còn con chung hay con riêng nào khác.

Về di sản thừa kế: Năm 1995 bố mẹ anh ly hôn. Khi bố mẹ anh ly hôn thì anh và chị H1 ở với bố và bố anh có chung sống với bà Nguyễn Thị Ả nhưng không có đăng ký kết hôn và cũng không có con chung với bà Ả. Khi ly hôn thì bố con anh ở nhà tập thể của bố mẹ, mẹ anh ở chỗ khác. Đến năm 2001 bố anh bán nhà tập thể và mua chung với bà Ả 01 mảnh đất đất khoảng 100m² tại thôn T, xã T, huyện G nay là tổ A, phường T, quận L (đất đang tranh chấp). Bố anh và bà Ả xây nhà và cùng với chị em anh ở đó. Khoảng năm 2005 bà Ả không chung sống với bố con anh nữa và chuyển đi chỗ khác ở. Khoảng cuối năm 2009 chị H1 lấy chồng ở H không ở đó nữa nhà chỉ còn bố anh và anh ở. Năm 2012 anh lấy vợ ở riêng tại phường N nhà chỉ còn mình bố anh quản lý sử dụng. Bố anh tuy sống một mình nhưng vợ chồng anh vẫn thường xuyên qua lại chăm sóc bố. Năm 2018 thực hiện chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bố anh có kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất mua chung với bà Ả, nhưng do bà Ả có đơn thư không đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một mình bố anh nên anh đã phải bỏ tiền riêng của anh trả cho bà Ả trị giá 1/2 diện tích đất mua chung với bố anh. Việc trả tiền thanh toán phần đất mua lại phần đất của bà Ả tại thời điểm đó không có văn bản gì nhưng bà Ả đã thừa nhận tại biên bản thỏa thuận về việc kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập ngày 12/12/2018 tại UBND phường T. Tại biên bản này tuy không thể hiện việc bà Ả nhận tiền của anh nhưng việc này đã được bà Ả xác nhận tại giấy xác nhận thông tin ngày 12/8/2023 (văn bản này anh có nộp kèm theo đơn khởi kiện). Do giấy tờ mua bán đứng tên bố anh và bà Ả nên chính quyền có nói để thuận tiện cho việc cấp giấy chứng nhận thì cứ để cấp đứng tên một mình bố anh mà không đưa ông vào cấp chung vì giấy tờ mua bán không có tên anh. Vì là con cái trong gia đình nên anh cũng đồng ý và không có ý kiến gì. Đến năm 2019 thì đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố anh. Đất thuộc thửa số 197-1 tờ bản đồ số 02 diện tích là 92,8m² tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Sau khi được cấp giấy, bố anh giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh quản lý và làm thủ tục sang tên cho anh nhưng do đất vẫn nợ thuế khoảng hơn 400 triệu đồng mặt khác tại thời điểm đó anh đang đi nước ngoài và dịch C - 19 đang diễn ra nên việc sang tên cho anh chưa thực hiện được. Hiện nay đất vẫn đang còn nợ thuế. Năm 2022 thì bố anh mất đột ngột do vậy cũng không kịp để lại di chúc cho anh 1 đất mua chung với bà Ả. Sau khi bố anh mất, anh là người quản lý sử dụng nhà đất này, hàng năm anh kê khai và nộp thuế. Hiện nay trên đất có 01 nhà sàn 02 tầng bố anh làm năm 2002 và một số công trình phụ phía ngoài cũng do bố anh làm để sử dụng vào năm 2002.

Nay anh đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của ông Hoàng H4 là 01 nhà sàn 2 tầng và các công trình phụ xây năm 2002 và 46,4m² đất theo pháp luật và xin hưởng bằng hiện vật; Xác định diện tích 46,4m² trong thửa đất số 197-1 tờ bản đồ số 02 thuộc quyền sử dụng của anh.

Tại đơn yêu cầu thanh toán tiền thuế đất ngày 10/6/2024, anh H yêu cầu: Buộc chị H1 phải hoàn trả anh số tiền anh đã nộp thuế thay trên kỷ phần được hưởng.

* Bị đơn chị Hoàng Thị Hải H1 trình bày:

Về quan hệ huyết thống: chị nhất trí với trình bày của anh H, không có ý kiến gì khác.

Về di sản thừa kế: Nguồn gốc đất đang tranh chấp hiện nay là của bố chị để lại. Năm 1995 bố mẹ chị ly hôn. Mẹ chị ra đi tay trắng để lại nhà tập thể là tài sản chung vợ chồng cho bố chị ở. Năm 1999 bố chị bán nhà tập thể là tài sản chung của bố mẹ chị được 160.000.000 đồng và mua đất đang tranh chấp hiện nay hết 120.000.000. Bố chị mua đất của ông H3 gần nhà bà Ả. Toàn bộ tiền mua đất là của bố chị. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng, nhưng chị không hiểu vì lý do gì mà lại có tên của bà Ả trong giấy mua đất của bố chị với ông H3. Khi bán nhà thì bố con chị về ở chung nhờ nhà bà Nguyễn Thị Ả. Bố chị có chung sống với bà Ả nhưng không có đăng ký kết hôn và cũng không có con chung với bà Ả. Khoảng năm 2005 bà Ả không chung sống với bố con chị nữa và chuyển đi chỗ khác ở. Năm 2009 chị lấy chồng ở H không ở đó nữa, nhà chỉ còn bố chị và em H ở. Năm 2011 thì em H chuyển ra chỗ khác ở nhà chỉ còn bố chị quản lý sử dụng. Năm 2019 đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố chị. Khi cấp đất chị không biết có tranh chấp hay không, chị chỉ nghe em H nói là bà Ảnh có đòi 250.000.000 đồng thì mới đồng ý ký cho cấp giấy chứng nhận. Chị thừa nhận là em H có đưa cho bà Ả 250.000.000 đồng, trong số 250.000.000 đồng này có 75.000.000 đồng là của chị bán cổ phiếu đưa cho em H để em H đưa cho chị Ả. Chị khẳng định số tiền này là tiền trả cho bà Ả để bà Ả ký đồng ý để bố chị được làm giấy chứng nhận. Mọi thủ tục giấy tờ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố chị đều do em H đứng ra làm. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất em H đang quản lý. Khi bố chị mất thì chị quản lý, sau này chị đã đưa lại cho em H. Việc chị đưa cho em H 75.000.000 đồng không có giấy tờ xác nhận nhưng số tiền này chị chuyển khoản cho em H. Chị sẽ cung cấp bản sao kê chứng minh việc chị chuyển khoản số tiền này cho em H vào buổi làm việc lần sau. Hiện đất vẫn đang nợ thuế.

Khi còn sống bố chị có nói với chị sẽ bán nhà đất này mua nhà nhỏ hơn rồi đón hai mẹ con chị về ở cùng với bố chị nhưng chưa kịp thực hiện thì năm 2022 bố chị đột ngột qua đời do vậy cũng không kịp để lại di chúc.

Hiện nay trên đất có 01 nhà sàn 02 tầng bố chị làm sau khi mua đất còn làm năm nào chị cũng không rõ và một số công trình phụ phía ngoài cũng do bố chị làm để sử dụng.

Nay trước yêu cầu chia thừa kế của em H, chị cũng đồng ý nhưng chị xác định di sản thừa kế của bố chị để lại là toàn bộ nhà, các công trình xây dựng trên toàn bộ thửa đất là 92,8m² đất tại thửa đất số 197-1 tờ bản đồ số 02; Không đồng ý xác định diện tích 46,4m² trong thửa đất số 197-1 tờ bản đồ số 02 thuộc quyền sử dụng của em H.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Anh H trình bày: giữ nguyên lời trình bày tại Tòa; không xuất trình thêm chứng cứ mới. Đề nghị chia di sản của bố để lại là 46,4m² đất sau khi trừ số tiền thuế mà anh đã nộp. Công nhận 46,4m² đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố anh là tài sản chung vợ chồng anh. Đồng ý gộp phần thừa kế của mình được hưởng vào tài sản chung vợ chồng anh. Đề nghị chia bằng hiện vật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H1 trình bày: Bị đơn không có yêu cầu phản tố, không có tài liệu chứng cứ cung cấp bổ sung. Đề nghị xác định toàn bộ nhà đất là di sản của ông Hoàng H4 để lại. Vì các lý do:

  • + Xác định di sản thừa kế: Tại thời điểm cấp giấy chứng quyền sử dụng đất ông H4 đã ly hôn và chưa đăng ký kết hôn;
  • Tại giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 178678 mang tên ông Hoàng H4. Căn cứ quy định của pháp luật thì chỉ có mình ông Hoàng H4 được nhà nước công nhận là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. Căn cứ vào khoản 16 và khoản 21 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 và 2024.
  • + Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định 46,4m² đất là tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của anh Hoàng Gia H vì:
  • Nguồn gốc thửa đất do ông Hoàng H4 nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn H3 có tên của ông H4 và bà Ả. Việc ông H4 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2001 bằng giấy tờ viết tay đủ điểu kiện công nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2013. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp giữa ông H4 và bà Ả, tuy nhiên sau đó tranh chấp đã được giải quyết, bà Ả đã trao tặng cho ông H4 toàn quyền đối với thửa đất này, đồng thời có đơn đề nghị UBND phường T, UBND quận L tiếp tục hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng H4. Ông H4 đã được cấp giấy chứng nhận năm 2019 là phù hợp quy định của pháp luật.
  • Anh H cho rằng thửa đất là tài sản chung của ông H4 và bà Ả năm 2015, khi ông H4 kê khai làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Ả không đồng ý và có đơn tranh chấp, anh H đứng ra mua lại 1/2 diện tích đất của bà Ả trong khối tài sản chung với ông H4, nhưng thông tin này anh H đưa ra có sự mâu thuẫn với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Tại biên bản thỏa thuận ngày 12/12/2018 có nội dung bà Ả giao toàn quyền quyết định và định đoạt khối tài sản cho ông Hoàng H4, văn bản này không ghi nhận việc bà Ả chuyển phần tài sản của mình cho anh H. Giấy xác nhận thông tin ngày 12/8/2023 được lập sau khi có tranh chấp thừa kế; Việc xác nhận chỉ là thông tin một phía từ bà Ả; L khai của bà Ả của có mâu thuẫn; ông C1 chỉ là tổ trưởng tổ dân phố nhưng lại xác nhận nguồn gốc số tiền của anh H trả cho bà Ả là tiền cá nhân điều này không có căn cứ.
  • Chị H1 có cung cấp được sao kê giao dịch chuyển tiền của chị cho anh H 02 lần vào tháng 7 và tháng 8 với số tiền 70.000.000 đồng để góp tiền cùng bố trả tiền cho bà Ả. Chứng cứ này có từ năm 2018 là khách quan đúng với bản chất sự việc.
  • Giả sử có việc tự thỏa thuận chuyển nhượng giữa bà Ả và anh H thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2018 cũng bị vô hiệu vì vi phạm về điều kiện có hiệu lục của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Đồng ý trừ số tiền thuế mà nguyên đơn đã nộp còn lại để chia.
  • Đề nghị: Căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 chia thừa kế di sản của ông Hoàng H4 cho anh H và chị H1 mỗi người được một phần bằng nhau.

- Chị H1 trình bày: Đồng ý với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị và chị xác định số tiền chị chuyển cho anh H là 70.000.000 đồng chứ không phải 75.000.000 đồng như chị đã khai tại tòa trước đây.

- Chị T trình bày: Đề nghị xác định số tiền trả cho bà Ả để lấy lại phần đất của bà Ả năm 2018 và số tiền anh H nộp thế đất là tài sản chung vợ chồng chị. Đề nghị chia chung với kỷ phần thừa kế anh H được hưởng từ bố.

Các đương sự xác định cụ H4 mất không để lại di chúc và chỉ đề nghị chia đất còn nhà và các công trình xây dựng trên đất không yêu cầu xem xét giải quyết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 136/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế của anh Hoàng Gia H.
  2. 1.1: Xác định di sản thừa kế của ông Hoàng H4 để lại gồm: Quyền sử dụng 46,4m² đất thuộc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2. Địa chỉ Số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội trị giá: 2.552.000.000 đồng - 221.160.000 đồng tiền thuế đất = 2.330.840.000 đồng.
  3. 1.2: Xác nhận hàng thừa kế của ông Hoàng Hà G: anh Hoàng Gia H và chị Hoàng Thị Hải H1.
  4. 1.3: Xác nhận ông Hoàng H4 chết không để lại di chúc. Di sản thừa kế của ông H4 được chia theo luật.

Di sản thừa kế của ông H4 được chia đều cho 2 thừa kế gồm: Anh Hoàng Gia H và chị Hoàng Thị Hải H1 mỗi thừa kế được hưởng một kỷ phần thừa kế ngang nhau có giá trị là 1.165.420.000 đồng.

  1. Chấp nhận yêu cầu xác nhận tài sản chung của anh Hoàng Gia H.

Xác nhận 46,4m² đất thuộc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2. Địa chỉ Số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội trị giá: 2.552.000.000 đồng và 442.320.000 đồng tiền thuế đất là tài sản chung vợ chồng anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Hoàng Gia H nhập phần thừa kế của mình được hưởng trị giá 1.165.420.000 đồng vào với phần tài sản chung vợ chồng của anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T trị giá 1.165.420.000 đồng + 2.330.840.000 đồng + 442.320.000 đồng = 3.938.580.000 đồng.

* Chia bằng hiện vật: Chia cho anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T được quyền quản lý và sử dụng 92.8m² đất cùng toàn bộ công trình kiến trúc trên đất thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2. Địa chỉ Số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội có trị giá 5.104.000.000 đồng. Diện tích 92.8m² đất giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,5,6,7,8,1 theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất kèm theo bản án.

* Thanh toán chênh lệch: Buộc anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T phải có trách nhiệm thanh toán trả cho chị Hoàng Thị Hải H1 là 1.165.420.000 đồng.

Thu hồi giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo đúng quyết định này.

Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, Thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn là anh Hoàng Gia H và bị đơn là chị Hoàng Thị Hải H4 kháng cáo bản án, cụ thể:

  • - Anh Hoàng Gia H kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 136/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội về việc buộc anh và chị Nguyễn Thu T phải có trách nhiệm thanh toán trả cho chị Hoàng Thị H5 H1 số tiền 1.165.420.000 đồng với lý do: Nội dung phán quyết trên chưa xét đầy đủ tới nghĩa vụ nộp phần thuế sử dụng đất tính trên kỷ phần chị H1 được hưởng nhờ chia thừa kế. Anh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, bổ sung nội dung: buộc chị H1 phải hoàn trả vợ chồng anh số tiền vợ chồng anh nộp thuế thay trên kỷ phần chị H1 được hưởng tương ứng với 110.165.000 đồng. Các phán quyết còn lại đề nghị giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã tuyên ngày 15/8/2024.
  • - Chị Hoàng Thị Hải H1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
    • + Yêu cầu xác định di sản thừa kế của ông Hoàng H4 là toàn bộ quyền sử dụng 92,8m² đất thuộc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội và chia thừa kế theo quy định của pháp luật, chị và anh H mỗi người được một phần bằng nhau.
    • + Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định 46,4m² đất thuộc thửa đất số 197-1 là tài sản riêng của vợ chồng H - T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự thống nhất được quan hệ huyết thống, thời điểm mở thừa kế; hàng thừa kế, di sản kế và giá trị di sản thừa kế nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới và không thỏa thuận với nhau được cách giải quyết vụ án.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn xác định quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4 là di sản thừa kế. Chia di sản thừa kế theo pháp luật, có xác định công sức của anh Hoàng Gia H và chị Hoàng Thị Hải H1.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Hoàng Gia H và bị đơn chị Hoàng Thị Hải H1 nộp trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí về hình thức là hợp lệ.
  • - Các đương sự có mặt đúng theo quy định của pháp luật.
  • - Về thời hiệu khởi kiện: Ông Hoàng H4 sinh năm 1950, chết năm 2022. Theo quy định tại điều 623 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Năm 2023 anh Hoàng Gia H (con của ông H4) khởi kiện tại Tòa án yêu cầu chia thừa kế di sản của ông H4. Do đó xác định còn thời hiệu khởi kiện.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của ông Hoàng H4 là 01 nhà sàn 2 tầng và các công trình phụ xây năm 2002 và 46,4m² đất theo pháp luật và xin hưởng bằng hiện vật; Xác định diện tích 46,4m² trong thửa đất số 197-1 tờ bản đồ số 02 thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.

Nhận thấy:

2.1. Về quan hệ huyết thống và hàng thừa kế:

Ông Hoàng H4 và bà Nguyễn Thị H2 sinh được 02 người con gồm: chị Hoàng Thị Hải H1 và anh Hoàng Gia H. Ông H4 và bà H2 chỉ có một vợ một chồng, ngoài những người con trên hai ông bà không có con riêng, con nuôi nào khác.

Năm 1995 ông H4 và bà H2 ly hôn. Ngày 16/12/2022 ông H4 chết không để lại di chúc, bố mẹ ông H4 đã chết trước khi ông H4 chết; thời điểm mở thừa kế của ông H4 là ngày 16/12/2022. Do vậy hàng thừa kế thứ nhất của ông H4 gồm: chị Hoàng Thị Hải H1 và anh Hoàng Gia H. Di sản thừa kế của ông H4 chia theo pháp luật.

2.2. Về di sản thừa kế:

Anh H trình bày: Nguồn gốc đất là của bố anh ông Hoàng H4 và bà Nguyễn Thị Ả mua chung của ông Đặng Văn H3. Năm 2018 khi bố anh làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do bà Ả có tranh chấp nên anh đã bỏ tiền ra mua lại phần đất của bà Ả. Anh H xác định di sản thừa kế của bố chỉ có 1/2 diện tích đất. Chị H1 cho rằng di sản thừa kế của ông Hoàng H4 là 92.8m² đất thuộc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội.

Do cấp sơ thẩm chỉ xác định di sản của ông H4 là 46.4m² và không tính công sức của chị về việc chị đã gửi ông H4 70.000.000 đồng để mua lại thửa đất trên nên chị H1 đã kháng cáo bản án.

Xét kháng cáo của chị H1:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp:

Tại Công văn phúc đáp số 1951/CNLB ngày 19/2/2024 của Văn phòng Đ-Chi nhánh quận L thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2 (theo bản đồ đo vẽ năm 1993) địa chỉ số D ngách I, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là đất ao mà ông H4 nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn H3 theo Giấy biên nhận viết tay ngày 16/11/2001. Tài liệu kèm theo Công văn số 1951/CNLB ngày 19/2/2024 của Văn phòng Đ-Chi nhánh quận L và Công văn phúc đáp số 1222/UBND-TNMT ngày 24/6/2024 là hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hoàng H4 trong đó có 01 giấy biên nhận viết tay ngày 16/11/2001. Giấy biên nhận có nội dung “...tôi Đặng Văn H3...tôi nhượng lại quyền sử dụng đất cho A (H4 + chị Ả) với số lượng 100m² với giá thỏa thuận giữa hai bên. Hiện tại tôi đã nhận của Anh C2 là: (100.000.000đ/(Một trăm triệu đồng chẵn)...”; Tại Tờ trình số 426/TTr-TNMT ngày 25/3/2019 của Phòng T1 trình UBND quận L về việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Hoàng H4 thể hiện: “Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất có nguồn gốc là đất ao thổ cư của gia đình ông Đặng Văn H3 sử dụng trước năm 1993, không có giấy tờ. Bản đồ đo vẽ năm 1993 thể hiện thửa đất số 197, tờ bản đồ số 02, diện tích 451m². Quá trình sử dụng, gia đình ông H3 có chuyển nhượng cho ông Hoàng H4 (và bà Ả) một phần diện tích, giấy tờ mua bán viết tay ngày 16/11/2001. Ông H4 đã xây dựng nhà và tự chuyển mục đích sang đất ở sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 (Có phiếu ý kiến khu dân cư kèm theo). Ông Hoàng H4 cung cấp biên lai nộp thuế nhà đất từ năm 2005 mang tên bà Nguyễn Thị Ả và biên lai năm 2006 mang tên ông Hoàng H4, diện tích 92.0m² đất.

Năm 2017, ông Hoàng H4 có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quá trình giải quyết hồ sơ, UBND phường T nhận được đơn để nghị dừng cấp giấy chứng nhận cho ông Hoàng H4 của bà Nguyễn Thị Ả, do bà Ả có chung tiền mua thửa đất trên. Ngày 05/6/2017, thửa đất của ông Hoàng H4 đã được Văn phòng Đ cấp giấy xác nhận đăng ký đất đai số 134/GXN-VPĐKDD, diện tích hiện trạng 98.70m² đất ở đô thị; Quyền sử dụng đất hạn chế: Đất ao tự chuyển mục đích sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và đang có tranh chấp. Ngày 12/12/2018, UBND phường T có buổi làm việc với bà Nguyễn Thị Ả và ông Hoàng H4. Tại Biên bản làm việc bà Ả trình bày: Nay giữa hai bên đã có sự thống nhất, ông H4 trả cho bà Ả một số tiền mà trước đây bà Ả góp cho ông H4 để mua thửa đất nêu trên. Bà Ả đã có sự thỏa thuận thống nhất giao toàn quyền quyết định và định đoạt khối tài sản cho ông Hoàng H4, và không có thắc mắc khiếu kiện và bà Ả đã ký tên đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận.

Ngày 02/01/2019 đến ngày 16/01/2019, UBND phường T đã công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hoàng H4 theo quy định và không nhận được bất cứ đơn thư, kiến nghị nào. Sau đó ông H4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh H và ông H4 cũng không thực hiện việc tách sổ. Mặt khác, tại cấp sơ thẩm bà Ả có xác nhận việc bà Ả chuyển phần tài sản của mình cho anh H. Giấy xác nhận thông tin ngày 12/8/2023 được lập sau khi có tranh chấp thừa kế; Việc xác nhận chỉ là thông tin một phía từ bà Ả; Lời khai của bà Ả có mâu thuẫn; ông C1 chỉ là tổ trưởng tổ dân phố nhưng lại xác nhận nguồn gốc số tiền của anh H trả cho bà Ả là tiền cá nhân điều này không có căn cứ, ý kiến này cũng mâu thuẫn với nội dung bà Ảnh thể hiện tại buổi làm việc ngày 12/12/2018 tại UBND phường T vì vậy không có cơ sở xác định bà Ả đã bán cho anh H 1/2 diện tích đất nói trên cho anh H.

Cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Diện tích 92.8m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4 là tài sản chung của ông Hoàng H4 và anh Hoàng Gia H, trong đó di sản của ông H4 chỉ là 46,4m² đất và 1/2 trị giá căn nhà là không đúng quy định của pháp luật.

Cần chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị Hải H1, xác định thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, diện tích 92.8m² tại số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4 là tài sản riêng của ông Hoàng H4 và được chia thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy, các đương sự đều thống nhất xác nhận để bà Ả đồng ý cho ông H4 làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh H là người trực tiếp giao dịch với bà Ả và thanh toán cho bà Ả số tiền là 250.000.000 đồng. Anh H cho rằng 250.000.000 đồng là tiền riêng của vợ chồng anh H và không thừa nhận chị H1 đã đóng góp 70.000.000 đồng vào số tiền này nhưng căn cứ sao kê giao dịch chuyển tiền của chị H1 cho anh H 02 lần vào tháng 7 và tháng 8 với số tiền 70.000.000 đồng có nội dung “chị hòa gửi tiền cho bố”. Hội đồng xét xử nhận thấy chứng cứ này có từ năm 2018 là khách quan phù hợp với lời khai của chị H1, phù hợp với diễn biến sự việc nên cần phải xác định anh H và chị H1 đều có công sức đóng góp vào di sản thừa kế.

Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị H1 về việc đã gửi cho ông Hoàng H4 số tiền 70.000.000 đồng để mua lại đất của bà Ả và xác định tỷ lệ đóng góp công sức như sau:

  • + 70.000.000 đồng do chị H1 đóng góp tương đương với 12.99m² đất.
  • + 180.000.000 đồng do vợ chồng anh H đóng góp tương đương với 33.41m² đất.

Sau khi xác định tỷ lệ thì diện tích đất còn lại là 46.4m² mỗi người được hưởng 1/2 = 23.2m².

Tại Biên bản định giá tài sản ngày 27/3/2024, các đương sự không yêu cầu định giá nhà và các công trình xây dựng trên đất mà chỉ đề nghị định giá đất. Do vậy 92.8m² x 55.000.000 đồng/1m² = 5.104.000.000 đồng (Năm tỷ, một trăm linh bốn triệu đồng).

Tại mục VI. Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4 thể hiện: Nợ tiền sử dụng đất 442.320.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng).

Ngày 26/4/2024 anh H đã nộp số tiền 442.320.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng) nên số tiền anh H đã nộp thuế được trừ vào giá trị di sản;

Do vậy trị giá di sản thừa kế của ông H4 còn lại là: 5.104.000.000 đồng - 442.320.000 đồng = 4.661.680.000 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm sáu mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

* Chia theo giá trị:

Như nhận định trên đã xác định tỷ lệ và công sức đóng góp của anh H và chị H1 đối với phần đất mua lại của bà Ả và mỗi người được hưởng 1/2 diện tích đất còn lại được chia như sau:

Anh H được chia: 33.41m² + 23.2m² = 56.61m2 x 55.000.000đ/1m² = 3.113.550.000 đồng (Ba tỷ, một trăm mười ba triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Chị H1 được chia: 12.99m² + 23.2m² = 36.19m² x 55.000.000đ/m² = 1.990.450.000 đồng (Một tỷ, chín trăm chín mươi triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Về số thuế anh H đã nộp, chị H1 phải chịu trách nhiệm 1/2 = 442.320.000 đồng : 2 = 221.160.000 đồng tiền thuế. Như vậy sau khi trừ thuế chị H1 được hưởng: 1.990.450.000 đồng - 221.160.000 đồng = 1.769.290.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng).

* Chia bằng hiện vật:

Căn cứ vào thực tế hiện trạng nhà đất, ghi nhận sự tự nguyện của anh Hoàng Gia H nhập công sức đóng góp của vợ chồng vào khối di sản anh Hoàng Gia H được chia thừa kế. Để đảm bảo thuận lợi trong việc hưởng thừa kế và quản lý, sở hữu, sử dụng nhà đất của các thừa kế thấy cần giao cho anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T được quyền quản lý và sử dụng 92.8m² đất cùng toàn bộ công trình kiến trúc trên đất thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội có trị giá 5.104.000.000 đồng. Diện tích 92.8m² đất giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,5,6,7,8,1 (theo sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).

Vợ chồng anh Hoàng Gia H có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản của ông H4 bằng tiền cho chị Hoàng Thị Hải H1 được hưởng là 1.769.290.000 (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Xét yêu cầu kháng cáo của anh H buộc chị H1 phải thanh toán hoàn trả anh số tiền anh đã nộp thuế đất thay trên kỷ phần được hưởng.

Nhận thấy cấp sơ thẩm đã xem xét cụ thể vấn đề này nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh H.

Từ phân tích trên chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị Hải H1; không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Gia H và sửa bản dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận L theo phân tích trên.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để được cấp GCN quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí:

Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 609, 611, 612, 623, 630, 634, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015; Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của chị Hoàng Thị Hải H1.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Gia H.
  3. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu xin chia thừa kế của anh Hoàng Gia H.

  • - Xác nhận hàng thừa kế của ông Hoàng Hà G: anh Hoàng Gia H và chị Hoàng Thị Hải H1.
  • - Xác định di sản thừa kế của ông Hoàng H4 để lại gồm: Quyền sử dụng 92.8m² đất thuộc thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội trị giá: 5.104.000.000 đồng - 442.320.000 đồng (tiền thuế đất do vợ chồng anh H nộp) = 4.661.680.000 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm sáu mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
  • - Xác nhận ông Hoàng H4 chết không để lại di chúc. Di sản thừa kế của ông H4 được chia theo pháp luật.

3.2. Chia theo giá trị:

Anh H được chia: 33.41m² + 23.2m² = 56.61m2 x 55.000.000đ/1m² = 3.113.550.000 đồng (Ba tỷ, một trăm mười ba triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Chị H1 được chia: 12.99m² + 23.2m² = 36.19m² x 55.000.000đ/m² = 1.990.450.000 đồng (Một tỷ, chín trăm chín mươi triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Về số thuế anh H đã nộp, chị H1 phải chịu trách nhiệm 1/2 = 442.320.000 đồng : 2 = 221.160.000 đồng tiền thuế (Hai trăm hai mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Như vậy sau khi trừ 1/2 tiền thuế, chị H1 được hưởng: 1.990.450.000₫ - 221.160.000đ = 1.769.290.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Hoàng Gia H nhập công sức đóng góp của vợ chồng vào khối di sản anh Hoàng Gia H được chia thừa kế trị giá 4.661.680.000 đồng + 442.320.000 đồng = 5.104.000.000 đồng (Năm tỷ, một trăm linh bốn triệu đồng).

3.3. Chia bằng hiện vật:

Chia cho anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T được quyền quản lý và sử dụng 92.8m² đất cùng toàn bộ công trình kiến trúc trên thửa đất số 197-1, tờ bản đồ số 2, địa chỉ số D ngách I phố T, tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội có trị giá 5.104.000.000 đồng. Diện tích 92.8m² đất giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,5,6,7,8,1 (theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất kèm theo bản án).

Anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản của ông Hoàng H4 bằng tiền cho chị Hoàng Thị Hải H1 được hưởng là 1.769.290.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Thu hồi giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 178678; số vào sổ GCN: 4127 ngày 25/3/2019 do UBND quận L cấp mang tên ông Hoàng H4.

Anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và theo quy định của pháp luật.

3.4. Không chấp nhận các yêu cầu khác của các đương sự.

3.5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm :

  • + Anh Hoàng Gia H phải chịu 94.271.000 đồng án phí chia thừa kế, được đối trừ với số tiền 10.822.000 đồng (Mười triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0018429 ngày 01/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận L, thành phố Hà Nội. Nay anh H còn phải nộp tiếp 83.449.000 đồng (Tám mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng) án phí chia thừa kế.
  • + Chị Hoàng Thị Hải H1 phải chịu số tiền là 71.713.500 đồng (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm mười ba nghìn, năm trăm đồng) án phí chia thừa kế.
  • + Anh Hoàng Gia H và chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không được chấp nhận yêu cầu xác định tài sản chung.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

  • + Hoàn trả cho chị Hoàng Thị H5 H1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0018957 ngày 28/08/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận L, thành phố Hà Nội.
  • + Hoàn trả cho anh Hoàng Gia H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0018969 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận L, thành phố Hà Nội

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hánh án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận L;
  • - Chi cục THADS quận L
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 235/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về thừa kế giữa nguyên đơn là Hoàng Gia H1 và bị đơn là Hoàng Thị Hải H2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger