|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH G Bản án số: 235/2024/HS-ST Ngày: 04-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Túy Uyển và bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Hoàng D; sinh năm 1994, tại tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.
- - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phùng A, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.
- - Người chứng kiến: Ông Nguyễn Phú T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.
- - Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đình Hoàng D1 sử dụng chất ma túy loại Methamphetamine từ khoảng thời gian đầu năm 2018. Thông qua mối quan hệ xã hội, D1 biết được số điện thoại của người phụ nữ tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 06/8/2024, D1 gọi điện thoại cho M hỏi mua ma túy thì M đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực đường L (trước trang trại T), thành phố P, tỉnh G. Sau đó, D1 đón xe ôm của một người (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) chở đi đến địa điểm trên và D1 đã mua của M 01 bì nilon ma túy (loại Methamphetamine) với giá 2.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D1 đón xe ôm chở về lại nhà trọ tại thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh G, cất giấu để sử dụng. Vào lúc 21 giờ ngày 12/8/2024, khi D1 đang ở tại nhà trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp Công an phường C, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và đã thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định), 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh có màn hình bị vỡ, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682).
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 763 ngày 21/8/2024 của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 (một) gỏi nilon, trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,3793 gam".
Chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (màn hình đã bị vỡ) là của bị cáo D1 và bị cáo đã dùng để liên lạc mua ma túy.
Vật chứng của vụ án, gồm:
- + Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 763 ngày 21/8/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh có màn hình bị vỡ, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 253/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G truy tố bị cáo Đinh Hoàng D, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Hoàng D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
2
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn dán kín ghi số 763 /PC09 ngày 21/8/2024, bên ngoài có dấu niêm phong của phòng K- Công an tỉnh G và 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682). Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (màn hình đã bị vỡ).
Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Hoàng D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 11 giờ ngày 06/8/2024, tại khu vực đường L trước trang trại T, thành phố P, tỉnh G, Đinh Hoàng D đã mua của đối tượng M (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói nilon chứa ma tuý (loại Methamphetamine) với giá 2.500.000 đồng rồi mang về nhà tại thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh G, cất giấu để khi cần thì lấy sử dụng. Đến 21 giờ ngày 12/8/2024, khi D đang ở tại nhà trọ thì bị bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể cùng 01 chiếc
3
điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh có màn hình bị vỡ, kèm thẻ sim mà D đã dùng để liên lạc mua ma túy.
Qua giám định, xác định: 01 gói nilon có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể mà Đinh Hoàng D đã tàng trữ để sử dụng là Methamphetamine, khối lượng 2,3793 gam.
Hành vi tàng trữ 2,3793 gam chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, do bị cáo Đinh Hoàng D thực hiện như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi đó của bị cáo Đinh Hoàng D đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Hoàng D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo Đinh Hoàng D là thanh niên có sức khỏe nhưng bị cáo đã đi vào con đường nghiện ngập sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của việc sử dụng trái phép chất ma túy, nó không chỉ là tác nhân gây nguy hại lớn cho sức khoẻ của con người khi sử dụng, người dùng sẽ gặp ảo giác, hủy hoại trí óc và cơ thể nếu ai nghiện ngập nó mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm xã hội khác.
Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với tội phạm.
Đối với đối tượng tên M mà bị cáo Đinh Hoàng D khai là người đã bán ma túy: Do bị cáo không biết họ tên, nhân thân, lai lịch của người này; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng do điện thoại bị vỡ màn hình nên không xác định được số điện thoại của đối tượng này và nội dung liên quan đến việc mua bán chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là có cơ sở.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đinh Hoàng D không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng
4
xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn dán kín ghi số 763/PC09 ngày 21/8/2024, bên ngoài có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G và 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682). Xét vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (màn hình đã bị vỡ) thuộc sở hữu của Đinh Hoàng D. Xét vật chứng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Hoàng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Đinh Hoàng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Đinh Hoàng D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2024.
- Về vật chứng: Tuyên:
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh (màn hình đã bị vỡ).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn dán kín ghi số 763/PC09 ngày 21/8/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G và 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682).
Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh G.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Hoàng D phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/12/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
5
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thơ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
6
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH G |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ... giờ ... phút, ngày 04 tháng 12 năm 2024.
Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài T1.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Túy U và bà Nguyễn Thị Bích T2.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Đinh Hoàng D; giới tính: Nam. Sinh năm 1994, tại G. Nơi cư trú: Xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh G;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
1
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
2. Về tội danh:
Bị cáo Đinh Hoàng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng D ................................................. tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2024.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
4. Về vật chứng:
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (màn hình đã bị vỡ).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn dán kín ghi số 763/PC09 ngày 21/8/2024, bên ngoài có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G và 01 sim số (mặt sim có dãy số 89840.20001.11976.54682).
Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày ... tháng ... năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh G.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
5. Về các vấn đề khác:
- - Về án phí: Bị cáo Đinh Hoàng D phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- - Về quyền kháng cáo:
2
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/12/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%.
Nghị án kết thúc vào hồi ... giờ ... phút, ngày 04 tháng 12 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
3
Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 235/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Hoàng D
