TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 235/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Năm;
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý– Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường số 6, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 225/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 190/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Trần Văn G (tên gọi khác: P), sinh năm 1981, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: K2/71A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Huỳnh Thị Kim L; bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân:
- Ngày 16/7/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị can đã chấp hành xong bản án ngày 12/7/2008.
- Ngày 14/7/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị can đã chấp hành xong bản án ngày 25/10/2012.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 215/LTG-CSĐT ngày 18/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B; hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Vào lúc 17 giờ ngày 10/01/2024, Trần Văn G đến khu vực Bến xe M thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 10 tép Heroin (đựng trong ống nhựa được hàn kín 02 đầu) với giá 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng. Sau đó, G mang số ma túy vừa mua được về cất giấu tại căn nhà thuộc địa chỉ K, Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để sử dụng dần. Đến khoảng 08 giờ 45 phút ngày 11/01/2024, Công an phường B kiểm tra hành chính căn nhà thuộc địa chỉ nêu trên, phát hiện và bắt quả tang G cất giấu 10 tép Heroin trong phòng ngủ. Quá trình điều tra, G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số: 01-02). Lời khai bị can, biên bản hỏi cung bị can (bút lục số: 38-49 ). Lời khai người làm chứng, người liên quan (bút lục số 57-60).
Vật chứng thu giữ:
- 09 ống nhựa màu trắng dục kích thước dài 2,5cm, rộng 01cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất màu trắng (ký hiệu M1)
- 01 đoạn ống nhựa kích thước dài 2,5cm, rộng 01cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất màu trắng (ký hiệu M2)
Các đoạn ống nhựa trên đã được niêm phong có chữ ký của Trần Văn G và dấu mộc của Công an phường B. (Bút lục 08-09,11)
Tại Bản kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Mẫu chất màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4355 gam (không phẩy bốn ba năm năm gam), loại: Heroin (Heroine);
Mẫu chất màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0091 gam (không phẩy không không chín mốt gam), loại Methamphetamine.
(Bút lục 12)
- Biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với G: Xét nghiệm nước tiểu dương tính với Ma tuý heroin. (bút lục 37)
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 239/CT-VKSBH ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng điểm i, Khoản 1, Điều 249 và điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trần Văn G từ: 16 (mười sáu) tháng tù đến 20 (hai mươi) tháng tù.
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau giám định.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn G thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 11/01/2024, tại căn nhà thuộc địa chỉ K, Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Công an phường B, thành phố B phát hiện và bắt quả tang Trần Văn Giàu có hành vi tàng trữ trái phép 0,4355 gam (không phẩy bốn ba năm năm gam) ma tuý, loại Heroine và 0,0091 gam (không phẩy không không chín một gam) ma tuý, loại Methamphetamine; mục đích để sử dụng.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Trần Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm vào đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, góp phần làm gia tăng các tệ nạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, bản Cáo trạng số 239/CT-VKSBH ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng khi chấp hành xong bản án lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được được quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Văn G để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về vật chứng:
Đối với toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật
[4] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: do bị cáo bị xác định là có tội nên cần buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm i, điểm c Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn G 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau giám định trong gói niêm phong số 104/KL- KTHS ngày 17/01/2024.
Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Trần Văn G được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 235/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn G tàng trữ TPCMT
