|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số:235/2024/DS-ST Ngày 25 – 9- 2024 V/v tranh chấp “Yêu cầu mở lối đi” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Nhân.
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 19 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Yêu cầu mở lối đi".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1974 (có mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Trần Thị Kim H, sinh năm 1958 (có mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1944 ( Xin vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện theo ủy quyền của bà H: Dương Nguyễn Nhã D, sinh năm 1995 (có mặt).
- Địa chỉ: Số B, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Chị là chủ sử dụng đất của thửa 72, tờ bà đồ số 48, có diện tích 3 675,5m2, đất có địa chỉ tại ấp T, T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BX 099189, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là CH02862, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 04/02/2015.
Từ trước đến nay chị và gia đình có sử dụng lối đi duy nhất qua phần đất của ông M để đi lại, lối đi này có diện tích khoảng 2m2 (ngang 1m x dài 2m). Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 2022 thì ông M không đồng ý cho chị sử dụng lối đi này nữa. Ông Mến yêu C chị phải mở lối đi khác, chị yêu cầu được mua lại phần diện tích 2m2 làm lối đi nhưng ông M không đồng ý. Nay chị biết được bà H đứng tên thửa đất này từ năm 2022 nên chị bổ sung yêu cầu khởi kiện.
Yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị Kim H, ông Nguyễn Văn M cho chị được mở lối đi có diện tích khoảng 2m2 (ngang 1m x dài 2m) trên thửa đất số 83 tại ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo bản vẽ của Công ty TNHH Đ thì lối đi có diện tích khoản 2.9m2. Đồng ý hoàn giá trị phần diện tích sử dụng mở lối đi.
Tại biên bản hoà giải ngày 26/01/2024: Từ xưa giờ từ thời ông nội chị thì vẫn đi trên lối đi này, chị không biết nên không có xin phép ông M cho đi. Do trước đây ông M có yêu cầu đổi đất để ông M xây nhà, chị đồng ý đổi 6m ngang nhưng ông M yêu cầu đổi 15m chiều ngang nên chị không đồng ý đổi, vì nếu đổi 15m ngang thì không thể mở nền xây nhà cho con chị sau này. Từ đó phát sinh tranh chấp. Lý do chị không đồng ý mở lối đi ngay cuối ranh đất ông M, bà H là vì nếu đi như vậy phải đi qua đất ông T1 và phải xin mở lối đi qua đất ông T1, phần đi ngang có chiều dài khoảng 25m nên phía các con ông T1 không đồng ý và chị cũng không đồng ý. Nay ông T1 đã chết, các con ông T1 đang làm giấy tờ đất chia đất ra nhiều chủ, rất không thuận tiện cho chị. Chị hiện không có khả năng, nhưng nếu ông M bà H đồng ý thì chị đồng ý nhận chuyển nhượng toàn bộ phần đất còn lại từ đường đi yêu cầu mở đến hết đất của ông M để ông M khỏi phải chia cắt đất. Nếu yêu cầu chị nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất thì chị không có khả năng. Hoặc chị xin mở lối đi cho chị ngay cuối ranh đất của chị, đoạn giáp với đất ông M thì chị cũng đồng ý.
Tại biên bản hoà giải ngày 26/3/2024: Ngoài yêu cầu khởi kiện thì chị cũng muốn thoả thuận với bà H, nếu thoả thuận được thì chị cũng đồng ý đổi đất cho bà H phần đất bề ngang 8 m, nếu ngang 10 m thì không đồng ý, và đo lại phần diện tích đất của bà H bao nhiêu thì đổi lại lấy đất của chị diện tích bao nhiêu, là bằng nhau thì mới đồng ý. Hoặc chị xin bà H cho chị bắt cầu đi qua đường công cộng, bắt cầu tại ½ mương ranh thoát nước giữa bà H với chị Lương Thị Kim N.
*Bị đơn bà Trần Thị Kim H và đại diện uỷ quyền là Dương Nguyễn Nhã D cùng thống nhất trình bày trình bày:
Ngày 06/7/2022 bà H đã được ông M tặng cho quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là CH00235 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 03/02/2015, có thông tin như sau: Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 48, diện tích 251,7m2 đất có địa chỉ tại ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của chị T thì không đồng ý vì thửa đất của bà H có hình tam giác hẹp và dài, phần nhỏ nhất có chiều ngang 1.22m. Nếu chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì phải mở lối đi ngang thửa đất làm cho thửa đất bị chia đôi cùng với hình thể thửa đất rất xấu lại càng khó sử dụng vì bị chia nhỏ.
Vì vậy bà H đồng ý cho mở lối đi tại ranh đất của bà. Vị trí mà bà H đồng ý là phần đất nằm ở phía bắc của thửa đất giáp ranh với thửa 62 và 61, có diện tích khoảng 1m2. Nguyên đơn phải có nghĩa vụ hoàn lại giá trị phần đất mở lối đi.
Tại biên bản hoà giải ngày 26/01/2024: Chị T đã đi trên đất của bà H mấy chục năm nay rồi không xin phép, nay bà H có nhu cầu sử dụng, tôi định xây nhà trên phần đất có bề dài, còn phần còn lại thì bà H để làm sân nên bà H không cho đi. Trước đây, bà H có ý cho chị T đi trên lối đi cuối ranh đất của bà H để ra đường đi công cộng nhưng nay bà H không đồng ý, yêu cầu chị T tự tìm lối đi khác. Ngoài ra, nếu mở lối đi theo yêu cầu của chị T thì đất của bà H bị chia cắt.
Tại biên bản hoà giải ngày 26/3/2024: Không đồng ý yêu cầu của chị T. Nếu chị T đồng ý đổi đất thì bà sẽ lấy phần đất ngang 10x50 m của chị T, chị T sẽ nhận được toàn bộ phần đất của bà chạy dài đến cuối ranh đất của chị T. Thỏa thuận bắt cầu tại mương ranh thì bà H không đồng ý cho bắt cầu, xin đi không hay bán đất để bắt cầu thì bà H cũng không đồng ý.
* Bị đơn Nguyễn Văn M trình bày:
Không đồng ý cho đi trên đất gia đình ông. Không đồng ý cho mở lối đi ngay ranh đất. Chị T tự tìm lối đi qua đất ông T1.
Không đồng ý chuyển nhượng một đoạn từ đường đi yêu cầu mở ra ranh. Nếu nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất thì ông mới đồng ý bán.
Tại phiên tòa:
- Chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu mở cho chị lối đi ngang qua phần đất bà H, có thể mở lối đi tại vị trí lối đi cũ là T3 hoặc lối đi mới là T2b. Còn những lối đi khác thì không yêu cầu mở.
- Bà Trần Thị Kim H và đại diện theo ủy quyền của bà H chỉ đồng ý cho mở lối đi tại vị trí T1. Đối với các vị trí khác thì bà không đồng ý vì cho rằng ảnh hưởng tới việc sử dụng đất của bà.
*Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện mở lối đi của nguyên đơn là có căn cứ vì hiện tại, thửa đất của nguyên đơn đang bị vây bọc, không có lối đi. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mở cho nguyên đơn lối đi tại vị trí T4a vì phía nguyên đơn cũng đồng ý mở lối đi này và nếu mở lối đi tại vị trí này thì sẽ không ảnh hưởng tới việc chia cắt đất của phía bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu và tranh luận của đương sự, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung nguyên đơn Nguyễn Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M mở cho nguyên đơn một lối đi để đi ra đường đi công cộng. Do vậy, đây là tranh chấp về dân sự, quan hệ “tranh chấp yêu cầu mở lối đi”, thuộc thẩm quyền của Tòa án theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), HĐXX xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Kim T cho rằng hiện thửa đất chị đang đứng tên và sử dụng không có lối đi để đi ra đường đi công cộng, nên chị yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị Kim H, ông Nguyễn Văn M cho chị được mở lối đi ngang qua phần đất của bà Trần Thị Kim H đang đứng tên.
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyễn Thị Kim T hiện đang đứng tên thửa 72, tờ bản đồ số 48, có diện tích 3.675,5m2, đất có địa chỉ tại ấp T, T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận ngày 04/02/2015 (bút lục 04). Nguồn gốc đất do ông bà để lại, thửa đất có vị trí, tứ cận: Hướng Bắc giáp Nguyễn Kim T1 thửa số 62, hướng Nam một phần giáp Lương Thị Kim N thửa số 81 và một phần giáp Bùi Thanh S thửa số 71, hướng Đông giáp Bùi Thanh S thửa số 71, hướng Tây giáp thửa số 83 của Trần Thị Kim H. Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 48, có diện tích 251,7 m2, đất có địa chỉ tại ấp T, T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 04/02/2015 cho hộ ông Nguyễn Văn M đứng tên. Vào ngày 06/7/2022 xác nhận hộ ông Nguyễn Văn M tặng cho lại toàn bộ thửa đất trên cho Trần Thị Kim H, theo điểu chỉnh tại trang 3 của giấy chứng nhận (bút lục 17). Đất có tứ cận: Hướng Bắc giáp Nguyễn Thế L thửa số 61, hướng Nam giáp Lương Thị Kim N thửa số 81, hướng Đông một phần giáp Nguyễn Kim T1 thửa số 62 và một phần giáp Nguyễn Thị Kim T tại thửa 72, hướng Tây giáp đường bê tông.
[2.2] Xét thấy, Thửa đất 72 của chị Nguyễn Thị Kim T giáp với ranh phía trong của thửa 83 của bà H, hiện thửa 72 đang bị vây bộc bởi các thửa đất và không có lối đi ra đường công cộng. Do đó, để đi ra đường đi công cộng thì chị T phải đi qua phần đất thửa 83 của bà H tại vị trí T3, nay bà H không đồng ý cho chị T tiếp tục sử dụng lối đi T3 nên chị T khởi kiện xin mở lối đi tại vị trí T3. Bà H cho rằng nếu cho đi tại vị trí T3 là lối đi cũ sẽ chia cắt đất của bà và ảnh hưởng đến việc sử dụng đất, do đó chị T thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu được mở lối đi tại vị trí T3 hoặc T2b ngay cuối ranh đất của chị T. Bà H cũng không đồng ý mở lối đi tại vị trí T2b vì cũng cho rằng chia cắt đất. Và chỉ đồng ý mở một lối đi duy nhất tại vị trí T1.
[2.3] Xét lối đi theo yêu cầu của bà H, tại vị trí cuối đất của bà H T1 tọa lạc tại hướng nam, mặc dù lối đi này có diện tích chỉ 2,4 m2, có chiều ngang 2m và chiều dài 1,2 là thuận lợi cho việc bồi hoàn giá trị đất của chị T và ít ảnh hưởng đến diện tích đất bị mất cũng như việc sử dụng đất của bà H là không bị chia cắt như bà H trình bày, nhưng lại gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất liền kề là Nguyễn Kim T1, và rất khó khăn cho chị T khi đi tại lối đi này, bở lẽ nếu đi tại vị trí T1 thì chị T sẽ đi ngang qua phần đất của Nguyễn Kim T1 một đoạn khoảng 23 m2 rồi mới đến lối đi, và phía gia đinh Nguyễn Kim T1 cũng không đồng ý cho chị T đi ngang qua. Do lối đi T1 là lối đi ngang qua 2 bất động sản, việc di chuyển khó khăn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bà H. Đối với lối đi tại vị trí T4a thì phía bà H và chị T đều không đồng mở vì bà H cho rằng có nhu cầu sử dụng phần đất này, chị T thì cho rằng diện tích lớn 12,6m2, và là con mương nếu mở lối đi phải bắt cầu và bồi thường giá đất thì chị không có khả năng. Xét thấy, lối đi tại T4a hiện là con mương, nếu mở lối đi tại vị trí này thì phải bắt cầu ngang 1m dài 12,4m sẽ khó khăn cho việc đi lại vì cầu dài và có chiều ngang 1m, phía chị T tốn chi phí lớn cho việc bồi hoàn giá trị đất và chi phí xây dựng, ngoài ra chiều lài lối đi 12,4 m nằm tại đoạn hướng nam của thửa đất 83, cũng gây ảnh hưởng đến việc sự dụng phần diện tích đoạn này của bà H, ông M.
[2.4] Nhận thấy, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện, thửa đất số 83 mà bà H đứng tên là thửa đất mới được cắt ra do mở đường công cộng, nên thửa đất 83 hình thành có chiều dài hẹp tại hướng bắc và chiều dài mở rộng dần ở phần đất hướng nam, tại đoạn cuối thửa đất số 83 tại hướng nam là phần đất có chiều dài lớn nhất 12.4m2 và tại hướng bắc chỉ có chiều dài 1,22m. Do hình thể đất của bà H có diện tích lớn tại đoạn hướng nam nên khi mở lối đi cũng có xem xét đến việc sử dụng đất tại hướng nam của thửa 83 nhằm tạo điều kiện cho việc sử dụng đất của bà H.
[2.5] Xét lối đi theo yêu cầu của chị T tại vị trí T2b là phần đất có chiều dài 1.26-1.39m và chiều ngang 2,23m với diện tích 2.9 m2 là lối đi phù hợp so với lối đi tại vị trí T3, T4a và T1. Lối đi này là lối đi tại cuối ranh đất của chị T tiếp giáp với đất của bà H, có diện tích nhỏ nên thuận lợi cho việc bồi hoàn giá trị đất của chị T và nếu đi lối đi này thì không phải đi qua bất động sản liền kề khác, chiều dài lối đi ngắn và không nằm gần đoạn hướng nam của đất bà H so với lối đi T3, T4a. Ngoài ra, do thửa đất số 83 tại hướng tây giáp với đường đi công cộng chạy dài hết thửa đất và không tiếp giáp với thửa đất nào, nên khi mở lối đi tại T2b cũng không ảnh hưởng đến việc đi lại, cũng như sử việc dụng đất của bà H, tại đoạn này có chiều dài đất chỉ hơn 1m nên cũng không ảnh hưởng đến việc xây dựng hoặc canh tác.
[2.6] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và chứng thư định giá số 253/2024/45 ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Công tyTNHH kiểm toán và tư vấn M1, thì trên phần đất mở lối đi có các tài sản như sau: 01 cây dừa loại B2 và 01 cây mít loại D, có giá trị 1.639.000 đồng. Theo chứng thư định giá số 0706.01/2023/CTTĐG-MKF/TG ngày 05 tháng 7 năm 2023, của Công tyTNHH kiểm toán và tư vấn M1 thì đơn giá quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm tại vị trí mở lối đi là 3.300.000 đồng/m2 (diện tích đất mở lối đi là 2,9 m2 x 3.300.000 đồng/m2= 9.570.000 đồng. Tổng cộng giá trị đất và cây trồng: 11.209.000 đồng. Chị T sử dụng lối đi này, nên phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất và giá trị cây trồng cho bà Trần Thị Kim H.
[3] Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu xem xét hoàn chi phí tố tụng.
[4] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho yêu cầu mở lối đi cho nguyên đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận, đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho yêu cầu mở lối đi tại vị trí T4a là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 245, Điều 254, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 95, Điều 100, Điều 170, Điều 171 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim T.
- Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Kim H mở choNguyễn Thị Kim Tuyến một lối đi có diện tích 2,9m2 tại vị trí T2b(theo mãnh trích đo địa chính số 199-2024 ngày 29/7/2024 của Công ty TNHH Đ, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M duyệt ngày 18/9/2024), phần đất lối đi trên tại thửa 83, tờ bản đồ số 48, loại đất CLN tọa lạc ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 03/02/2015 cho hộ ông Nguyễn Văn M, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00235, chỉnh lý trang 3 tặng cho bà Trần Thị Kim H theo hồ sơ số 000235.TA.001 ngày 06/7/2022 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Kim H phải di dời 01 cây dừa và 01 cây mít ra khỏi phần lối đi tại vị trí T2b, theo mãnh trích đo địa chính số 199-2024 ngày 29/7/2024 của Công ty TNHH Đ, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M duyệt ngày 18/9/2024.
- Bà Nguyễn Thị Kim T tự nguyện bồi hoàn cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Kim H tiền cây trồng có trên lối đi và giá trị phần đất mở lối đi, tổng cộng là 11.209.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai biến động quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất đai.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự.
- Chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu 560.000 đồng án phí sơ thẩm, cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bạch T2, ông Nguyễn Hữu T3, bà Hồ Thị N1, ông Lê Quang N2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị L1, Nguyễn Ngọc Lan P, Nguyễn Ngọc Lan T4 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 25/9/2022 có mặt nghe tuyên án.
|
Hội Thẩm nhân dân |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Sắc Ly
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSND TP Mỹ Tho;
- - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
- - Lưu hồ sơ vụ án. (12b)
Bản án số 235/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp “yêu cầu mở lối đi”
- Số bản án: 235/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Yêu cầu mở lối đi”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp “Yêu cầu mở lối đi" giữa Nguyễn Thj Kim T và Trần Thị Kim H
