Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TH

TỈNH THANH HÓA

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 234/2024/HSST

Ngày: 30/05/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Dũng.

Bà Hoàng Thị Hạnh.

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 252/2024/TLST-HS ngày 26/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Đức H; sinh ngày 20 tháng 07 năm 1961; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi thường trú: phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: số nhà A T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Con ông: Vũ Đức H1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Trần Thị Y, Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án: Ngày 24/01/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 25 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 17/4/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/10/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/08/2005, ngày 15/10/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/3/2011, ngày 29/11/2007 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội tỉnh T. Bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Vũ Thị V, sinh năm: 1989

Địa chỉ: Số nhà A T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do.

- Người làm chứng:

Anh Lê Anh T, sinh năm: 1978;

Địa chỉ: Số nhà A Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 40 phút, ngày 26/01/2024, Tổ công tác Công an phường Đ, Công an phường N, thành phố T phối hợp với Đội Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực trước nhà văn hóa phố N, đường N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Vũ Đức H (đang ngồi trên xe mô tô Honda LEAD BKS 36B8-86327) và anh Lê Anh T, sinh năm 1978, trú tại số nhà A Đ, phường T, thành phố T, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của H 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước gói khoảng (1 x 2,5) cm, bên trong chứa bột màu trắng, H khai nhận chất bột màu trắng là ma túy loại heroine của H cất giấu với mục đích để sử dụng. Kiểm tra anh T không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Đức H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đưa H, anh T cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 440/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,217g (không phẩy hai mười bẩy gam), loại: Heroine”.

Về nguồn gốc ma túy Vũ Đức H khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đi ra khu vực gầm cầu N, phường Đ, thành phố T, gặp và nhờ mua được 01 (một) gói ma túy heroine với số tiền 300.000 đồng của một người đàn ông xưng tên H2 (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó, H cầm gói ma túy, bỏ vào túi quần bên trái đang mặc đi về nhà cất giấu, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 26/01/2024, H mang gói ma túy trên, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B8-863.27 ra khu vực cầu vượt N, phường N, thành phố T để sử dụng. Khi đi đến trước nhà văn hóa phố N, đường N, phường N, thành phố T, H gặp và đứng nói chuyện với anh Lê Anh T thì Tổ công tác Công an thành phố T đến kiểm tra, phát hiện thu giữ.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Đức H ở địa chỉ số nhà A T, phường N, thành phố T, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại phiếu kết quả test chất ma túy trong cơ thể, ngày 26/01/2024 của Trạm y tế phường N, thành phố T, kết luận: Vũ Đức H, Lê Anh T âm tính với chất ma túy.

Về vật chứng thu giữ và xử lý:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B8-863.27, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị V.

- 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T (ma túy còn lại sau giám định), đang tạm giữ tại Kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Vũ Đức H đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập.

* Tại bản Cáo trạng số 181/CT-VKSTPTH ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Vũ Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 (do bị cáo thành khẩn khai báo), khoản 2 Điều 51 (do bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng), điểm h khoản 1 Điều 52 (do bị cáo tái phạm); Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với toàn bộ quan điểm và không có ý kiến tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Hồi 11 giờ 40 phút, ngày 26/01/2024, tại khu vực trước nhà văn hóa phố N, đường N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Vũ Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,217g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo nhận thức được việc “tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Vũ Đức H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã ngang nhiên mua ma túy về sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Mặc dù bị cáo đang có 01 tiền án về tội phạm ma tuý chưa được xoá án tích, nhân thân xấu (đã 02 lần bị Toà án xét xử về tội phạm ma tuý, 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện bắt buộc) nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tàng trữ ma tuý để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật và với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng không có tính chất vụ lợi, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B8-863.27, chị Vũ Thị V không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị V, chị V không còn yêu cầu gì đối với bị cáo nên miễn xét.

- Xét số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 147/2024/THA ngày 26/14/2024. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành, sử dụng nên căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.

[7] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức H 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 26/01/2024).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 147/2024/THA ngày 26/04/2024.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Thi hành án HS, DS TP. Thanh Hóa;
  • - Nhà tạm giữ, CA TP. Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Người có ql, nv liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Ngọc Dũng Hoàng Thị Hạnh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH THANH HOÁ về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 234/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger