|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng;
Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 và 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2023/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2023/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 01/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1963 và bà Trịnh Thị C, sinh năm 1969; vợ: Vũ Thị Thu H, sinh năm 1994; con: Có 01 con sinh năm 2020; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1963 (có mặt);
- Bà Trịnh Thị C, sinh năm 1969 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn N và chị Vũ Thị Thu H là vợ chồng. Khoảng 21 giờ ngày 08/6/2023, bị cáo và chị H đang ở trong phòng ngủ trên tầng 2. Chị H đặt vấn đề với bị cáo vào ngày hôm sau cho chị H đưa con gái là Nguyễn Vũ Minh T về thăm bà ngoại ở thị trấn V, huyện L để đến ngày 10/6/2023 sẽ tổ chức sinh nhật cho cháu T tại đó. Bị cáo không đồng ý vì buổi tối ngày 10/6/2023 bị cáo dự liên hoan hội phường với một số người ở cùng thôn. Bị cáo bảo chị H tổ chức sinh nhật cho cháu T vào đúng ngày 14/6/2023. Chị H vẫn muốn tổ chức sinh nhật cho cháu T vào ngày 10/6/2023 vì hôm đó là ngày nghỉ cuối tuần. Thấy chị H không nghe theo, bị cáo chỉ tay vào mặt chị H và chửi. Hai người xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Bị cáo dùng hai tay đấm liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu và vào người chị H. Bị đánh, chị H dùng tay cào vào người bị cáo và đẩy về phía sau. Bị cáo tiếp tục dùng chân đá nhiều cái vào người, vào đùi chị H. Chị H dùng chân đạp lại rồi mở cửa phòng, bỏ chạy ra bên ngoài hành lang. Bị cáo đuổi theo tiếp tục đấm nhiều cái vào đầu và người chị H. Lúc này, ông Nguyễn Văn V và bà Trịnh Thị C là bố mẹ bị cáo chạy ra can ngăn thì bị cáo không đánh chị H nữa. Hậu quả làm chị H bị các vết thương phần mềm vùng tay trái, tay phải, ngực trái, chân trái và đùi phải và đến khám tại Trạm y tế xã Đ sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị ngoại trú. Sau khi bị đánh gây thương tích, chị H chuyển đến sinh sống tại nhà mẹ đẻ ở tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L. Ngày 17/7/2023, chị H có đơn đề nghị xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn N về hành vi cố ý gây thương tích.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích của chị Vũ Thị Thu H. Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 1506/23/KLTTCT-TTPY ngày 23/6/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính: Thương tích chạm thương cánh tay trái không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm thương mu bàn tay phải không còn dấu vết: 0%; Thương tích chạm thương mu bàn tay trái và ngón trỏ tay trái không còn dấu vết: 0%; Thương tích vết biến đổi sắc tố da vùng ngực trái: 0,5%; Thương tích vết biến đổi sắc tố da đùi trái kích thước (1,5x1,5)cm: 0,5%; Thương tích vết biến đổi sắc tố da đùi trái kích thước (0,5x0,5)cm: 0,5%; Thương tích vết bầm tím cẳng chân trái kích thước (3x2)cm: 0,5%; Thương tích vết bầm tím cẳng chân trái kích thước (2x2)cm: 0,5%; Thương tích vết bầm tím đùi phải: 0,5%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Thị Thu H tại thời điểm giám định là 03%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích “Các thương tích do vật tày gây nên”.
Tại Bản Cáo trạng số: 209/CT-VKS ngày 20/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Văn N về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi như sau: Buổi tối ngày 08/6/2023, bị cáo và chị H nảy sinh mâu thuẫn về việc tổ chức sinh nhật cho con chung, nên bị cáo đánh và gây thương tích cho chị H. Bị cáo cũng đã gặp gỡ để xin lỗi chị H và nộp 10.000.000 đồng để bồi thường cho chị H. Nay bị cáo thấy là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Chị Vũ Thị Thu H xác định: Buổi tối ngày 08/6/2023, chị và bị cáo nảy sinh mâu thuẫn về việc tổ chức sinh nhật cho con chung, nên bị cáo đánh và gây thương tích cho chị H. Chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị các khoản như sau: Chi phí điều trị thương tích 788.700 đồng; mất thu nhập 1 ngày công là 300.000 đồng; tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.
Những người làm chứng có lời khai xác định sự việc bị cáo Nguyễn Văn N đánh và gây thương tích cho chị H.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, thành phố B giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Khấu trừ từ 7% đến 10% thu nhập của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vũ Thị Thu H số tiền chi phí điều trị là 788.700 đồng, tiền mất thu nhập 1 ngày công là 245.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần từ 7.200.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng của bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người chứng kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về tội danh:
Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng kiến, tài liệu khác, Hội đồng xét xử thấy: Buổi tối ngày 08/6/2023, giữa bị cáo và chị H xảy ra mâu thuẫn. Bị cáo dùng tay đấm liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu, vào người chị H; dùng chân đá nhiều cái vào người, vào đùi chị H. Hậu quả làm chị H bị thương tích tỷ lệ 03%. Hành vi của N là cố ý gây thương tích thuộc trường hợp có tính chất côn đồ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác, được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Cố ý gây thương tích" theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: i, C1 tính chất côn đồ”.
Do đó, Cáo trạng số: 209/CT-VKS ngày 20/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã nộp một khoản tiền bồi thường cho chị H; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian phục vụ quân đội. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ cư trú rõ ràng. Nên không cần bắt các bị cáo phải cách ly xã hội, mà cần xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND cấp xã, nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, theo Điều 36 của Bộ luật hình sự.
[4]. Về trách nhiệm dân sự:
Chị H yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị các khoản như sau: Chi phí điều trị thương tích 788.700 đồng; mất thu nhập 1 ngày công là 300.000 đồng; tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật là có căn cứ theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự.
[5]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Cố ý gây thương tích”, ". Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho UBND xã Đ, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn N mỗi tháng số tiền là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vũ Thị Thu H số tiền chi phí điều trị là 788.700 đồng, tiền mất thu nhập 1 ngày công là 300.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 3.000.000 đồng. Tổng cộng là 4.088.700 đồng (Bốn triệu, không trăm, tám mươi tám nghìn, bẩy trăm đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 10.000.000 đồng đã chuyển đến tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số: 176A/QĐ-VKS ngày 20/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 234/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 234/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nam gây thương tích
