|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 234/2024/DS-PT
Ngày: 28-8-2024
V/v: “Tranh chấp HĐ vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
Các thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến.
Ông Ngô Thanh Sỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 205/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955.(có mặt)
- Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959.(có mặt)
- Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Xuân H, sinh năm 1955; địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, lời trình bày tại biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L:
Vào ngày 02/01/2020, Chi hội Phụ nữ ấp Đ có nhận được công văn của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai về việc hướng dẫn các tổ phụ nữ xây dựng các loại hình tiết kiệm phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương và nhu cầu của chị em.
Sau khi nhận được kế hoạch phát động, chị em phụ nữ đã tiến hành họp tổ và đã đi đến thống nhất bầu bà Nguyễn Thị T (thuộc Chi hội Phụ nữ ấp Đ) là người có uy tín, trách nhiệm làm công việc thu giữ và quản lý số tiền mà tổ tiết kiệm thu được chưa cần dùng đến để giúp đỡ phụ nữ nghèo, cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, bất trắc trong cuộc sống nhằm giải quyết những khó khăn trong gia đình.
Trách nhiệm của bà T là cho chị em vay theo đúng quy định của hội đưa ra như sau: Các đóng góp của chị em phải được công khai, minh bạch, có thống nhất của tổ, khi cho vay phải có phiếu chi, ký nhận. Thời hạn cho vay 01 kỳ là 12 tháng với lãi suất 02%. Tuy nhiên trong số tiền lãi 12 tháng các chị em chỉ được hưởng 11 tháng, còn 01 tháng là phòng rủi ro chị em không được nhận.
Đầu năm 2020, bà T có lên tiếng là quỹ đầu năm không đủ để hỗ trợ cho chị em vay nên ngày 23/01/2020 âm lịch (ngày 16/02/2020 dương lịch) bà đã đưa cho bà T số tiền 200.000.000 đồng để bà T cho vay nhằm giúp chị em trong chi hội có vốn làm ăn. Số tiền trên bà đưa trực tiếp cho bà T và bà T ký xác nhận vào sổ theo dõi nợ của bà, thời hạn bà đồng ý cho vay là 12 tháng còn việc bà T sử dụng số tiền trên cho ai vay thì bà không biết nhưng bà T có trả lãi cho bà đến tháng 11/2020 với mức 2%/tháng. Sau khi hết thời hạn cho vay (12 tháng), bà đã yêu cầu bà T trả lại số tiền gốc vay nhưng bà T không trả và cũng không trả lãi cho bà. Quá trình giải quyết tranh chấp tại UBND xã L, bà T thừa nhận có nhận của bà số tiền 200.000.000 đồng nhưng cho người ngoài vay (người không thuộc Chi hội Phụ nữ ấp Đ) nên dẫn đến không có khả năng trả lại số tiền trên cho bà.
Do vậy nên bà mới khởi kiện bà T yêu cầu trả lại cho bà số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ tháng 12/2020 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm (hết tháng 3/2024) với số tiền là 133.333.000 đồng (200.000.000 đồng x 20%/năm x 40 tháng = 133.333.000 đồng).
* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, lời trình bày tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa của bị đơn bà Nguyễn Thị T:
Bà và bà Nguyễn Thị L cùng sinh hoạt tại Chi hội Phụ nữ ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 02/01/2020, Chi hội Phụ nữ ấp Đ có nhận được công văn của Hội Liên hiệp phụ nữ xã L hướng dẫn các tổ phụ nữ xây dựng các loại hình tiết kiệm để huy động vốn góp của các thành viên trong chi hội, sau đó tạo điều kiện cho các thành viên có nhu cầu vay. Số vốn góp dao động từ 100.000 đồng đến 15.000.000 đồng, mức vốn góp và mức cho vay do các thành viên của chi hội tự quyết định, cuối năm chi hội lấy số tiền lãi mua quà chia cho các chị em trong chi hội và việc này Hội Phụ nữ xã không quy định.
Quá trình đó bà L đã có một số lần góp vốn cho vay với mỗi lần khoảng 1.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Do nhận thấy việc cho vay thuận lợi nên vào đầu năm 2020, bà L có đến nhà bà để nhờ bà đứng ra cho vay dùm bà L số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 02%/tháng. Hai bên thỏa thuận sau khi bà L giao tiền, bà sẽ cho người khác vay lại và việc cho ai vay như thế nào không cần báo cho bà L biết nhưng bà phải có trách nhiệm trả lãi cho bà L mỗi tháng 4.000.000 đồng, còn về thời hạn vay thì hai bên không thỏa thuận. Bà L đã giao cho bà số tiền 200.000.000 đồng làm 02 lần, bà không nhớ cụ thể ngày nhưng đến ngày 23/01/2020 (âm lịch) bà có làm giấy xác nhận là có nhận số tiền 200.000.000 đồng của bà L để cho vay lại. Việc bà và bà L thỏa thuận cho vay số tiền trên hoàn toàn không liên quan đến hoạt động gửi tiết kiệm của Chi hội Phụ nữ ấp Đ, bởi lẽ số tiền lãi 4.000.000 đồng/tháng bà L đều lấy hết và không góp vào quỹ chi hội. Bà xác định do bà L nhờ cho vay hộ nên toàn bộ số tiền lãi bà đều đưa hết lại cho bà L và không hưởng lợi gì. Sau khi nhận tiền của bà L, bà đã cho bà Lê Ngọc H1 (không rõ năm sinh) ở tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vay lại với lãi suất 2%/tháng. Bà xác định đã cho bà H1 đã vay nhiều lần, từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020 khi cho bà H1 vay tiền bà đều yêu cầu bà H1 ký xác nhận nợ tại sổ theo dõi vay nợ của bà. Bà H1 đã vay và trả nhiều lần nhưng đến tháng 10/2020 thì ngưng không trả lãi lẫn gốc cho bà và từ đó cho đến nay bà không liên lạc được với bà H1 nên mới không thu hồi được số tiền vốn trả lại cho bà L. Bà xác định đã trả cho bà L với mức lãi suất 02%/tháng (4.000.000 đồng/tháng) từ tháng 02/2020 đến tháng 11/2020. Do số tiền lãi bà đã trả cho bà L là đúng theo thỏa thuận của chị em trong chi hội phụ nữ cho vay nên bà không có ý kiến hay yêu cầu gì về số tiền lãi trên.
Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà phải trả cho bà L số tiền gốc 200.000.000 đồng và lãi của số tiền 200.000.000 đồng thì bà không đồng ý, bởi lẽ bà chỉ nhận tiền của bà L rồi cho bà H1 vay lại giúp bà L chứ bà hoàn toàn không hưởng lợi ích gì. Do vậy nên nay bà H1 không trả thì bà L phải kiện bà H1 chứ không thể khởi kiện bà.
* Theo bản tự khai, lời trình bày trong các biên bản hòa giải và tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Xuân H:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị L, việc bà L cho bà T vay tiền ông có biết và theo nội dung trình bày của bà L là đúng. Số tiền 200.000.000 đồng bà L cho bà T vay là tài sản chung của ông và bà L. Ông thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 357, 385, 401, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T.
Buộc bà Nguyễn Thị T trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và tiền lãi tạm tính từ tháng 12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 133.333.000 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng), tổng cộng là 333.333.000 đồng (Ba trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/4/2024, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy bản án trên do bỏ sót người tham gia tố tụng là bà Lê Ngọc H1.
* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị T xác định bà Nguyễn Thị L có đưa cho bà T số tiền 200.000.000 đồng, tuy nhiên hai bên không lập hợp đồng ghi rõ các nội dung thỏa thuận khi giao tiền nhưng bà T có ký nhận số tiền trên tại sổ theo dõi nợ của bà L.
Theo bà L thì mục đích đưa cho bà T số tiền 200.000.000 đồng để bà T cho vay giúp chị em trong Chi hội Phụ nữ ấp Đất Mới có vốn làm ăn, số tiền trên bà đưa trực tiếp cho bà T, việc bà T sử dụng số tiền trên cho ai vay thì bà không biết.
Tại văn bản số 02/PN ngày 27/02/2024 của Ban thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ xã L thể hiện số tiền 200.000.000 đồng này do cá nhân bà L và bà T giải quyết với nhau vì không liên quan đến chi, tổ hội phụ nữ.
Theo bà T thì mục đích bà L đưa cho bà số tiền 200.000.000 đồng là để nhờ bà đứng ra kinh doanh cho vay tiền giúp bà L với lãi suất 02%/tháng, hai bên thỏa thuận bà nhận tiền của bà L sau đó cho người khác vay lại, việc cho ai vay như thế nào không cần báo lại cho bà L, giữa bà và bà L thỏa thuận số tiền nêu trên không liên quan đến hoạt động gửi quỹ tiết kiệm của Chi hội phụ nữ ấp Đ. Sau khi nhận tiền của bà L thì bà đã cho bà Lê Ngọc H1 (không rõ năm sinh), địa chỉ: tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vay, bà không hưởng lợi gì và tiền lãi bà đã trả cho bà L với mức 2%/tháng từ tháng 02/2020 đến tháng 11/2020 sau đó ngừng do bà H1 đã không trả lãi cho bà từ tháng 8/2020.
Như vậy, việc bà L có đưa cho bà T số tiền 200.000.000 đồng là có thật được các bên thừa nhận. Các bên cũng thừa nhận đây là số tiền cho vay và có thực hiện việc trả lãi, do đó bà T không tiếp tục trả lãi cho bà L là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà L khởi kiện yêu cầu bà T phải trả cho số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ tháng 12/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (hết tháng 3/2024) là 200.000.000 đồng x 20%/năm x 40 tháng = 133.333.000 đồng, tổng cộng 333.333.000 đồng là có căn cứ.
Việc bà T kháng cáo cho rằng bà không vay tiền của bà L mà bà Lê Ngọc H1 mới là người vay của bà L, bà chỉ là người trung gian cho vay, nay bà H1 không trả thì bà L phải kiện bà H1 chứ không thể khởi kiện bà. Xét thấy, bà L trình bày bà không biết bà H1 là ai, bà không cho bà H1 vay tiền và giữa bà với bà T cũng không thỏa thuận việc bà T nhận tiền của bà để cho bà H1 vay lại. Ngoài lời khai, bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền 200.000.000 đồng bà L giao cho bà T là số tiền bà L cho bà H1 vay. Trường hợp bà T có cho bà H1 vay tiền thì đây là một giao dịch dân sự khác giữa bà T và bà H1, nếu bà H1 vi phạm nghĩa vụ với bà T thì bà T được quyền khởi kiện yêu cầu bà H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng một vụ án dân sự khác. Tại phiên tòa hôm nay, bà T trình bày bà đang khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà H1 tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Do đó, việc bà T kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm hủy bản án do bỏ sót người tham gia tố tụng là bà H1 là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T và áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T trong hạn luật định, đồng thời bà T cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
[3]Về nội dung kháng cáo của bà T:
Qua các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời trình bày của các bên đương sự có cơ sở xác định số tiền 200.000.000 đồng bà L đưa cho bà T là để bà T cho người khác vay lại lấy lãi, hoàn toàn không liên quan đến hoạt động đóng góp, quản lý, sử dụng quỹ tiết kiệm của Chi hội phụ nữ ấp Đ, xã L.
Theo lời trình bày của bà L và bà T cho thấy cả hai đã thống nhất thỏa thuận bà T được quyền quản lý số tiền 200.000.000 đồng của bà L và cho người khác vay lại để lấy lãi, việc bà T cho ai vay bà L không biết và bà T không có nghĩa vụ phải báo nhưng hàng tháng bà T phải có trách nhiệm trả tiền lãi cho bà L với mức lãi suất 2%/tháng. Theo bà L thì thời hạn cho vay là 12 tháng, bà T thì xác định hai bên không thỏa thuận về thời hạn vay mà khi nào bà L cần lấy lại tiền gốc thì phải báo trước cho bà T một khoảng thời gian hợp lý. Xét thấy quá trình nhận và quản lý số tiền 200.000.000 đồng của bà L để cho người khác vay lại, bà T đã có trả cho bà L khoản tiền lãi đến hết tháng 11/2020 nên việc bà Tân không trả lãi từ tháng 12/2020 và cũng không trả gốc cho bà L là đã vi phạm nội dung thỏa thuận giữa các bên, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L, do đó bà L khởi kiện yêu cầu bà T phải trả lại số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền 200.000.000 đồng từ tháng 12/2020 cho đến ngày xét xử là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về số tiền gốc là đúng với quy định pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định thỏa thuận giữa các bên về lãi suất 2%/tháng là vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015, nhưng do bà T xác định số tiền lãi 2%/tháng trả cho bà L là đúng theo mức lãi suất thỏa thuận của chị em trong chi hội phụ nữ cho vay và không có ý kiến cũng như yêu cầu tính lại về số tiền lãi đã trả cho bà L nên không đặt ra xem xét lại về phần lãi suất cũng là phù hợp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L chỉ yêu cầu bà T trả lãi ở mức 20%/năm theo quy định nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà L, do bà T đã trả lãi cho bà L đến tháng 11/2020 nên tính lãi tiếp theo là từ ngày 16/11/2020 (ngày vay 16/02/2020) cho đến ngày xét xử sơ thẩm (27/3/2024) là 40 tháng 12 ngày. Vì bà L chỉ yêu cầu tính lãi tròn trong 40 tháng là có lợi cho bà T nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà L về số tiền lãi cũng là phù hợp.
Từ sự nhận định trên xét thấy việc bà T kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà H1 vào tham gia tố tụng là không có cơ sở xem xét. Bởi lẽ lời khai nại của bà T về việc bà chỉ đứng ra nhận tiền của bà L cho bà Lê Ngọc H1 cư ngụ tại tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng vay lại giúp bà L và không hưởng lợi ích đã không được bà L thừa nhận. Bà L xác định chỉ đưa tiền cho bà T, còn việc bà T cho ai vay lại bà L không biết và bà L cũng không thỏa thuận với bà T việc cho bà H1 vay tiền. Do bà T không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà L đồng ý đưa số tiền 200.000.000 đồng để bà T cho bà H1 vay, vì vậy trường hợp bà T có cho bà H1 vay tiền thì đây là một giao dịch dân sự khác giữa bà T với bà H1 và nếu bà H1 không trả thì bà T được quyền khởi kiện bà H1 bằng một vụ án khác, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà H1 vào tham gia tố tụng là đúng quy định nên cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L và bà T đều là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên Tòa án cấp sơ thẩm miễn cho bà L và bà T là đúng theo quy định.
[5]Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà T do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Hoàn trả lại cho bà T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0015676 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
[6]Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 27-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 357, 385, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T.
- Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi từ tháng 12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 133.333.000 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng), tổng cộng cả hai khoản là 333.333.000 đồng (Ba trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị T.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Nguyễn Thị T. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0015676 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
- Kể từ ngày 28/3/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thảo |
Bản án số 234/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 234/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/C HĐ vay tài sản
