Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng và ông Nguyễn Văn Cát

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 28/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2024/TLST-HS ngày 07/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXXST-HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1999; CCCD số [...]; Giới tính: Nam;

Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Đội 13, thôn P, xã V, huyện H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Nguyễn Hữu S (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; Chưa có vợ, con; D chỉ bản số 356 do Công an quận H lập ngày 17/5/2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm 96/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 07 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/2021).

- Bản án hình sự sơ thẩm 20/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai phạt 01 năm 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2024).

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt

* Bị hại: Anh Vũ Đắc H, sinh năm 2000. ĐKHK và trú tại: Đ, thôn P, xã V, H, Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Nguyễn Hữu Đ đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/7/2018, anh Vũ Đắc H và Nguyễn Hữu Đ (anh H và Đ là bạn bè cùng xã) điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS 29X5- 496.76 của anh H đến quán Karaoke “H" ở tổ dân phố T, phường D, quận H, Hà Nội. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh H để mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu. Để thực hiện ý định trên, khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này Đ và anh H đang ở tại quán Karaoke “H”, Đ nói dối anh H là cho Đ mượn xe máy để đi đón bạn, anh H tin và đã giao chìa khóa, cùng chiếc xe máy Honda Vision BKS 29X5- 496.76 cho Đ. Ngay sau khi được giao chìa khóa và xe, Đ một mình điều khiển chiếc xe máy trên đến cửa hàng cầm đồ (Đ không nhớ tên cửa hàng) ở khu vực cầu vượt A, huyện H, cầm cố được 7.000.000 đồng, sau đó Đ bỏ đi không quay lại quán karaoke, cũng không thông báo cho anh H và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền 7.000.000 đồng.

Anh H sau khi giao chìa khóa và xe cho Đ thì vẫn chờ Đ tại quán K, đến 23 giờ 00 phút cùng ngày không thấy Đ quay lại trả xe và không liên lạc được với Đ nên anh H đã trả tiền hát rồi về nhà Đ tìm Đ nhưng Đ vắng nhà, gia đình Đ không biết Đ đi đâu, làm gì và không liên lạc được với Đ.

Ngày 18/7/2018, anh Vũ Đắc H đến Công an phường D trình báo sự việc trên.

Cuối năm 2018, ông Vũ Đắc N (bố đẻ của Vũ Đắc H) thông qua các mối quan hệ xã hội, đã liên lạc được với nơi Nguyễn Hữu Đ đã cầm cố xe máy Honda Vision BKS 29X5- 496.76 để chuộc lại. Người nhận cầm cố xe hẹn trời tối tại 1 địa điểm ở ngoài đường ở khu vực giáp ranh giữa thôn T, xã A, huyện H và thôn N, xã A, huyện H, Hà Nội để giao nhận xe nên anh H và gia đình không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của người nhận cầm cố xe máy. Theo anh H số tiền phải chuộc là 7.500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐG ngày 20/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, đã kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen đỏ, BKS 29X5-496.76, số khung 5814GY581429, số máy JF66E0813465 trị giá 29.500.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đ đã thông qua nhờ ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1977, trú tại: Đ, thôn P, xã V, huyện H, Hà Nội (là chú ruột Đông) đã trả cho anh H số tiền 10 triệu đồng (bao gồm tiền chuộc xe và tiền hát karaoke mà Đ còn nợ H) vào ngày 26/6/2024. Anh Vũ Đắc H không yêu cầu Nguyễn Hữu Đ bồi thường về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Hữu Đ.

Tại Bản Cáo trạng số 201/CT-VKS-HĐ ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Hữu Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đ đã khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đ. Đề nghị tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Do bị cáo không có việc làm, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về trách nhiệm dân sự: không đề nghị giải quyết. Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[3]. Về sự vắng mặt của Bị hại - Anh Vũ Đắc H: Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của anh H; anh H cũng đã có quan điểm về việc đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường dân sự. Tòa án đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh H vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh H.

[4]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu Đ tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 13/7/2018 tại quán K, địa chỉ tổ dân phố T, phường D, quận H, Hà Nội, Nguyễn Hữu Đ do cần tiền nên đã có hành vi gian dối là mượn xe 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29X5- 496.76, trị giá 29.500.000 đồng của anh Vũ Đắc H để chiếm đoạt bằng việc mang xe đi cầm cố lấy số tiền 7.000.000 đồng, rồi sau đó bỏ đi.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Hữu Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo Đ đã có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếc xe máy trên của anh Vũ Đắc H thì Đ đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau: Ngày 15/8/2019 lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ngày 31/8/2019 trộm cắp tài sản, ngày 14/9/2019 lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các hành vi này của Đ đã bị kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm 96/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Hà Nội với tổng hợp hình phạt của 03 tội là 24 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/2021). Tiếp đến, ngày 06/8/2022 thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm 20/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai với mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2024).

Bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã nhờ người thân bồi thường xong cho bị hại; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do vậy, đối với Đ cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và dăn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền, tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có điều kiện kinh tế để thi hành hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – anh Vũ Đắc H đã nhận được tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29X5- 496.76; bị cáo Đ đã bồi thường xong cho anh H tiền phải đi chuộc xe máy. Anh H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt: Nguyễn Hữu Đ: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Q. Hà Đông;
  • - Công an Q. Hà Đông;
  • - CC THA Q. Hà Đông;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tuyết Mai

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 234/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger