|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————————— |
|
Bản án số: 234/2024/HS-ST. Ngày: 27/08/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Xuân Dậu.
Ông Trần Văn Ân.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2024/HSST ngày 13 tháng 08 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1985 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; nơi ở: xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N(chết) và bà Lâm Thị L(chết); bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 29/04/2024 đến nay. (Có mặt)
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Chí K, sinh năm 2004. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 26/4/2024, bị cáo Trần Văn T1 là M(không rõ tên thật, địa chỉ) đi từ Bình Dương đến gặp Tổ khu vực gần chợ S, xã B có chỗ T2 ít ma túy để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, T3 điện thoại của người đi đường liên hệ với một người đàn ông tên T4(không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy về sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, T5 khiển xe mô tô biển số 67G1-890.79 đến điểm hẹn và mua được 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy “đá” với giá 200.000 đồng từ T1Sau đó, T6 giấu ma túy vào vỏ bao thuốc lá hiệu BASTOS cầm trên tay trái rồi điều khiển xe 67G1-890.79 đi về tìm nơi sử dụng, khi T7 lưu thông trên đường 767 đến Km07 thuộc ấp S, xã B, huyện T Công an xã B kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất màu trắng, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Trần Văn T8 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã B (một) vỏ bao thuốc BASTOS và 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha gắn biển số 67G1-890.79.
Tại Kết luận giám định số: 894/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1Công an tỉnh Đkết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1622 gam (không phẩy một sáu hai hai gam), loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 234/CT-VKS-TB ngày 07 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn T9 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt Trần Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 894/KL- KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1(PC09) Công an tỉnh Đ (một) vỏ bao thuốc BASTOS; đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67G1-890.79 là tài sản chung của chị Nguyễn Thị K1 N1và Tkhi Tsử dụng để đi mua ma túy chị N1không biết. Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công 1/2 giá trị chiếc xe trên; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với đối tượng tên Tlvà M là người bán và cho T ma túy, hiện nay không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T có căn cứ xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào ngày 29/4/2024, Công an xã B quả tang Trần Văn T10 tàng trữ 0,1622 gam ma túy loại Methamphetamine tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nainhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hình phạt dành cho bị cáo cần phải nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm thể hiện tính răn đe của pháp luật. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[5] Xử lý vật chứng:
[5.1] Tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 894/KL- KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1(PC09) Công an tỉnh Đ (một) vỏ bao thuốc BASTOS.
[5.2] Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67G1-890.79 là tài sản chung của chị Nguyễn Thị K1 N1và Tkhi Tsử dụng để đi mua ma túy chị N1không biết. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô biển số 67G1-890.79 và hoàn trả cho chị Nguyễn Thị K1 N1 phần giá trị còn lại của chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Kim N1
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/04/2024.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- - Tịch thu, tiêu hủy ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 894/KL- KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1(PC09) Công an tỉnh Đvà 01 (một) vỏ bao thuốc BASTOS.
- - Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô biển số 67G1-890.79 và hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Kim N2 giá trị còn lại của chiếc xe trên.
(Số vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/08/2024)
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Xuân Dậu – Trần Văn Ân – Đào Ngọc Nam
Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 234/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 29/4/2024, Công an xã Bắc Sơn bắt quả tang Trần Văn Thuận đang tàng trữ 0,1622 gam ma túy loại Methamphetamine tại ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn Thuận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
