|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2024/HS-ST. Ngày: 24-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Minh Trí.
Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn H, sinh năm 1988 tại Quảng Ninh.
Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ 4, ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên y tế - Trạm y tế xã L; Con ông Tằng A T và bà Lý Tài M; Gia đình bị cáo có 9 anh chị em, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; có vợ tên Lê Thị H1, có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 14/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Trạm y tế xã L. (vắng mặt)
Địa chỉ: xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Huỳnh Thế G, sinh năm: 1980. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Trần Kim T1, sinh năm: 1984. (đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Đoàn Thị T2, sinh năm: 1998. (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Lê Thị N, sinh năm: 1989. (đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Cao Thị Kim C, sinh năm: 1992. (đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Đinh Thị S, sinh năm: 1986. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Sơn Chane R, sinh năm: 1998. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Hồ Thị S1, sinh năm: 1967. (đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 08/6/2023, Đoàn Thị T2, sinh năm 1998 là công nhân của Công ty TNHH H2 thuộc khu công nghiệp N, huyện N do có nhu cầu làm Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội nên T2 lên các trang mạng xã hội tìm người nhận làm Giấy chứng nhận nghỉ việc thì có thông tin là Lê Thị N, sinh năm 1989, ngụ tại ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, nhận làm Giấy nhưng không phải đến Trạm y tế để khám trực tiếp nên T2 liên hệ với N nhờ làm giúp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho T2 nghỉ hai ngày từ ngày 09/6/2023 đến ngày 10/6/2023, với lý do bận việc, không thể trực tiếp đến cơ sở y tế khám bệnh. N đồng ý và báo giá với T2, bán Giấy chứng nhận nghỉ việc hai ngày là 160.000 đồng. T2 đồng ý và chuyển thông tin cá nhân, thẻ bảo hiểm y tế cho N. Đến 17 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, N liên lạc với anh rể Đặng Văn H, nhân viên của Trạm y tế xã L, huyện N, H là dân số viên hạng 3 thuộc Trạm Y tế xã L, đang trong ngày trực khám, chữa bệnh tại Trạm Y tế xã L, nhờ làm giúp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của Trạm Y tế xã L, cấp giấy cho người bạn tên Đoàn Thị T2 nghỉ làm việc 02 ngày, do bận việc cá nhân, không thể trực tiếp đến khám bệnh. H đồng ý, cả hai không thỏa thuận, đề cập trả tiền chi phí. Sau đó, N gửi cho H hình chụp thẻ bảo hiểm y tế và thông tin cá nhân của Đoàn Thị T2. H vào máy tính bàn của Trạm Y tế xã L, nhập thông tin người đứng tên trên thẻ bảo hiểm y tế do N gửi. H in ra phôi Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 164/KC, số seri: 751362303014 cấp cho người bệnh Đoàn Thị T2, sinh ngày: 04/01/1998, đơn vị làm việc là Công ty TNHH H2, chuẩn đoán và phương pháp điều trị: Viêm họng cấp/sốt, số ngày nghỉ: 02 ngày, nghỉ từ ngày 09/6/2023 đến hết ngày 10/6/2023. Lúc này, Huỳnh Thế G là Y sỹ, chức vụ Phó trưởng Trạm Y tế xã L, không có mặt tại Trạm Y tế xã L. H đã ký giả mạo 02 chữ ký của Huỳnh Thế G, vào mục “Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh” trên liên số 1, liên số 2 của Giấy chứng nhận. Xong H trình ký cho Trần Kim T1, là bác sỹ, chức vụ Trưởng Trạm Y tế xã L, nói với Trần Kim T1 là Huỳnh Thế G đã khám, chữa bệnh. Thấy có chữ ký của Y sỹ Huỳnh Thế G thì bác sỹ Trần Kim T1 ký chữ ký vào mục “Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị” trên liên số 1, liên số 2, của Giấy chứng nhận. Sau đó, H đóng dấu mộc Trạm Y tế xã L, vào Thủ trưởng đơn vị, dấu tên Trần Kim T1, đóng dấu giáp lai Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho người bệnh. H lấy liên số 1 Giấy chứng nhận, bỏ vào rổ giữ bản lưu của Trạm Y tế xã L và lấy 01 bản liên số 2 Giấy chứng nhận đưa cho N. H được N cho 100.000 đồng tiền bồi dưỡng làm giúp cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho Đoàn Thị T2. N chuyển Giấy chứng nhận đưa cho T2 và lấy của T2 số tiền bán giấy 160.000 đồng.
Đến 17 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, Cao Thị Kim C là nữ hộ sinh thuộc Trạm Y tế xã L, được Sơn Chane R, sinh năm: 1998, là công nhân Công ty TNHH F, thuộc khu công nghiệp N, huyện N, nhờ làm giúp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội và Đinh Thị S, sinh năm 1986 nhờ làm giúp giấy chứng nhận cho nghỉ việc 02 ngày 09/6/2023 và 10/6/2023. C đồng ý, không thỏa thuận, đề cập chi phí bồi dưỡng và yêu cầu Sơn Chane Ra, Đinh Thị S cung cấp thông tin thẻ bảo hiểm y tế. Sau đó, C liên hệ với Đặng Văn H nhờ làm giúp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho Sơn C1 Ra, nghỉ việc 01 ngày 09/6/2023 và Đinh Thị S nghỉ việc 02 ngày từ ngày 09/6/2023 đến hết ngày 10/6/2023, do bệnh cảm sốt, không thể trực tiếp đến Trạm Y tế xã L khám bệnh. H đồng ý, không thỏa thuận, đề cập tiền chi phí và C chuyển thông tin thẻ bảo hiểm y tế cho H. H vào phần mềm máy tính bàn của Trạm Y tế xã L, nhập số thẻ bảo hiểm y tế, đánh máy vào phần chuẩn đoán, phương pháp điều trị là viêm họng cấp/sốt, số ngày nghỉ: 01 ngày, ngày 09/6/2023, in ra phôi Giấy chứng nhận nghỉ việc số: 173/KCB, số seri: 751362303023 của Trạm Y tế xã L, đề ngày 09/6/2023, cấp cho người bệnh Sơn Chane R, sinh năm: 1998, đơn vị làm việc: Công ty TNHH F và đánh máy phần chuẩn đoán, phương pháp điều trị là sốt siêu vi, số ngày nghỉ: 02 ngày, từ ngày 09/6/2023 đến ngày 10/6/2023, in ra phôi Giấy chứng nhận nghỉ việc số: 174/KCB, Số seri: 751362303024, của Trạm Y tế xã L, đề ngày 09/6/2023, cấp cho người bệnh Đinh Thị S, sinh năm: 1986, đơn vị làm việc: Công ty TNHH F. Lúc này, Y sỹ Huỳnh Thế G không có mặt tại Trạm Y tế xã L. H đã ký giả mạo 02 chữ ký của Huỳnh Thế G vào mục “Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh” trên liên số 1, liên số 2 của Giấy chứng nhận cấp cho Sơn C1 Ra và Đinh Thị S. H trình ký Trần Kim T1 và nói người khám là Huỳnh Thế G đã khám, chữa bệnh. Thấy có chữ ký của Y sỹ Huỳnh Thế G thì bác sỹ Trần Kim T1 ký chữ ký vào mục “Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị, trên liên số 1, liên số 2, của Giấy chứng nhận. Sau đó, H đóng dấu mộc Trạm Y tế xã L, dấu mộc tên Trần Kim T1 và để Giấy chứng nhận trên bàn làm việc trong phòng trực của Trạm Y tế xã L. Sáng ngày 10/6/2023, C vào ca trực, đã lấy Giấy chứng nhận, đưa lại cho Sơn C1 Ra, Đinh Thị S. Chỉ không nhận tiền, không được hưởng lợi ích vật chất. Đến ngày 06/7/2023, Đoàn Thị T2, nhận thấy hành vi không đến khám chữa bệnh tại Trạm y tế xã L mà mua giấy với giá 160.000 đồng của nhân viên trạm y tế là vi phạm pháp luật nên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tố giác, báo tin về tội phạm, Cơ quan CSĐT tiến hành thu thập, điều tra xử lý.
Tại Kết luận giám định số: 2197/KL-KTHS, ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M1, từ M3 đến M5) không phải do cùng một người ký ra. Chữ ký mang tên Trần Kim T1 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1 đến A4) so với chữ ký mang tên Trần Kim T1 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M2, từ M6 đến M8) do cùng một người ký ra. Hình dấu tròn Trạm Y tế xã L trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1 đến A4) so với hình dấu tròn Trạm Y tế xã L trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M3 đến M8) do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Kết luận giám định số: 760/KL-KTHS ngày 29/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, về chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A11, A12, A23, A58, A60, A66, A77, A86, A88, A89, A92, A106, A112, A113, A117, A118) so với chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, từ M3 đến M5) không phải do cùng một người ký ra. Chữ ký mang tên Hồ Thị S1 trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A6, A21, A22, A24, A42, A49, A50, A53, A54, A68, A75, A105) so với chữ ký mang tên Hồ Thị S1 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M9) không phải do cùng một người ký ra.
Việc tạm giữ vật chứng:
- Liên số 1, liên số 2, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 164/KCB, Trạm Y tế xã L cấp cho Đoàn Thị T2, đề ngày 09/6/2023 và liên số 2, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 173/KCB, Trạm Y tế xã L, cấp cho Sơn C1 Ra, đề ngày 09/6/2023; L số 2, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 174/KCB, Trạm Y tế xã L cấp cho Đinh Thị S đề ngày 09/6/2023. Biên bản thu thập mẫu chữ viết, chữ ký của bà Trần Kim T1, đề ngày 07/7/2023, ông Huỳnh Thế G, đề ngày 06/7/2023, bà Hồ Thị S1, đề ngày 02/4/2024. 06 (Sáu) Báo cáo tháng của Trạm y tế xã L, về chương trình NKHHCTTE khu vực phía Nam, tháng 02, 03, 04, 10, 11, 12/2019, của Trạm Y tế xã L và 128 (Một trăm hai mươi tám) liên số 2, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cấp cho 128 lượt công nhân của Bảo hiểm xã hội huyện N cung cấp.
- 01 (một) Sổ khám bệnh A1/YTCS (Ban hành theo Thông tư số 27/2014, ngày 14/8/2014) và 01 (một) CPU máy tính, nhãn hiệu HP rm465, màu đen, của Trạm Y tế xã L, được sử dụng ghi nhận thông tin người bệnh đến khám và lưu giữ thông tin người bệnh nhận khám tại Trạm Y tế xã L.
- 01 (một) Ipad, đã qua sử dụng, màu xám đen, kiểu máy: Ipad mini 4, số máy: MK6Y2J/A, số sê-ri: F9FR426KGHMG, số imei: 359276063197373 của Lê Thị N, được sử dụng truy cập Zalo, liên lạc với Đoàn Thị T2, bán giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội.
- Số tiền 100.000 đồng của Đặng Văn H tự nguyện giao nộp.
Tại Cáo trạng số 202/CT-VKS-NT ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố như trên.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 359, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa tuyên tịch thu số tiền 100.000 đồng của Đặng Văn H là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có.
Tại phiên Tòa bị cáo không phát biểu tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định chữ ký, chữ viết cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 09/6/2023, tại Trạm y tế xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Đặng Văn H đã thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của Y sỹ Huỳnh Thế G, là người thực hiện khám chữa bệnh tại Trạm y tế xã L, trên 03 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội để bà Trần Kim T1 là Trưởng trạm y tế ký xác nhận để cấp cho Đoàn Thị T2, Sơn C1 Ra, Đinh Thị S và thu lợi bất chính 100.000 đồng.
Vì vậy, hành vi trên của bị cáo Đặng Văn H đã cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” được quy định điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; làm cho cơ quan tổ chức, bị suy yếu, mất uy tín mà cụ thể ở đây là làm giảm uy tín của ngành y tế, gây nên sự bất bình trong xã hội. Mặc dù, bị cáo nhận thức được hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, trong những năm công tác cũng như những năm phòng chống dịch Covid bị cáo được Ủy ban nhân dân huyện N, Sở Y tế tỉnh Đ tặng nhiều giấy khen. Tại phiên tòa, vợ bị cáo cung cấp chứng cứ thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình được địa phương xác nhận, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về biện pháp tư pháp: Cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng của bị cáo Đặng Văn H là tiền thu lợi bất chính do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội mà có.
[8] Về xử lý vật chứng:
Liên số 1, liên số 2 của Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 164/KCB ngày 09/6/2023 cấp cho Đoàn Thị T2 và liên số 2 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 173/KCB ngày 09/6/2023 cấp cho Sơn C1 Ra; liên số 2 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội số: 174/KCB đề ngày 09/6/2023 cấp cho Đinh Thị S. Biên bản thu thập mẫu chữ viết, chữ ký của bà Trần Kim T1 đề ngày 07/7/2023, ông Huỳnh Thế G đề ngày 06/7/2023, bà Hồ Thị S1 đề ngày 02/4/2024. 06 (Sáu) báo cáo tháng của Trạm y tế xã L, về chương trình NKHHCTTE khu vực phía Nam, tháng 02, 03, 04, 10, 11, 12/2019 của Trạm Y tế xã L và 128 (Một trăm hai mươi tám) liên số 2, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cấp cho 128 lượt công nhân do Bảo hiểm xã hội huyện N cung cấp. Đây là các tài liệu mẫu cần giám định và tài liệu mẫu so sánh khi giám định nên lưu hồ sơ vụ án.
01 (một) sổ khám bệnh A1/YTCS (Ban hành theo Thông tư số 27/2014, ngày 14/8/2014) và 01 (một) CPU máy tính, nhãn hiệu HP rm465, màu đen, của Trạm Y tế xã L, được sử dụng ghi nhận thông tin người bệnh đến khám và lưu giữ thông tin người bệnh nhận khám tại Trạm Y tế xã L. Do đang tiếp tục điều tra, làm rõ về hành vi gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, làm rõ đề nghị xử lý bằng một vụ án khác.
01 (một) Ipad, đã qua sử dụng, màu xám đen, kiểu máy: Ipad mini 4, số máy: MK6Y2J/A, số sê-ri: F9FR426KGHMG, số imei: 359276063197373, của Lê Thị N, được sử dụng truy cập Zalo, liên lạc với Đoàn Thị T2, bán giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội. Do đang tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của Lê Thị N có liên quan đến việc gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay không nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[9] Về vấn đề khác:
Đối với Lê Thị N, Cao Thị Kim C, đã có hành vi liên hệ Đặng Văn H nhờ làm giúp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, của Trạm Y tế xã L, cấp cho Đoàn Thị T2, Sơn C1 Ra, Đinh Thị S, mặc dù không đến khám, chữa bệnh tại Trạm Y tế xã L. Tuy nhiên, do N, C, không biết H, đã ký giả mạo chữ ký của người khám chữa bệnh là ông Huỳnh Thế G, trên 03 (Ba) giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cấp cho Đoàn Thị T2, Sơn C1 Ra, Đinh Thị S, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, làm rõ, về vai trò đồng phạm với Đặng Văn H và làm rõ hành vi làm giả giấy tờ tài liệu của Cơ quan tổ chức sẽ xử lý bằng vụ án khác.
Đối với bà Trần Kim T1, ông Huỳnh Thế G, bà Hồ Thị S1, kết quả điều tra, có 105 công nhân khai nhận mua giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của Trạm Y tế xã L hoặc không có bệnh vẫn đến Trạm Y tế xã L xin cấp giấy chứng nhận, có bệnh nhưng không có sự việc khám chữa bệnh vẫn xin cấp giấy chứng nhận, nên không có hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, của Trần Kim T1, Huỳnh Thế G, Hồ Thị S1, khi có cơ sở đề nghị xử lý sau.
Đối với Sơn Chane R, Đinh Thị S và 105 công nhân khai nhận đã mua giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của Trạm Y tế xã L hoặc không có bệnh vẫn đến Trạm Y tế xã L xin cấp giấy chứng nhận có bệnh nhưng không có sự việc khám chữa bệnh vẫn xin cấp giấy chứng nhận, do tổng số tiền mỗi người được quyết toán hưởng bảo hiểm xã hội dưới 10.000.000 đồng, số tiền chiếm đoạt bảo hiểm xã hội chưa đủ để khởi tố về hành vi Gian lận bảo hiểm xã hội. Riêng với Đoàn Thị T2, do không nộp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội cho Công ty TNHH H2, nơi đang làm việc, nên không vi phạm về hành vi Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Đối với 8.572 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, mà người lao động được cấp, theo Công văn số: 1120/BHXH-TTKT ngày 29/7/2023 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục thu thập các giấy chứng nhận nghỉ việc còn lại để tiến hành giám định và điều tra, xác minh, triệu tập làm việc với những công nhân còn chưa làm việc, để làm rõ hành vi Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khi có cơ sở đề nghị xử lý sau.
Đối với Kết luận giám định số: 760/KL-KTHS, ngày 29/04/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ, về Chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A11, A12, A23, A58, A60, A66, A77, A86, A88, A89, A92, A106, A112, A113, A117, A118) so với chữ ký mang tên Huỳnh Thế G trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, từ M3 đến M5) không phải do cùng một người ký ra. Chữ ký mang tên Hồ Thị S1 trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A6, A21, A22, A24, A42, A49, A50, A53, A54, A68, A75, A105) so với chữ ký mang tên Hồ Thị S1 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M9) không phải do cùng một người ký ra. Quá trình điều tra bị cáo Đặng Văn H khai rằng không ký giả mạo chữ ký của ông Huỳnh Thế G và bà Hồ Thị S1, trên các tài liệu, là các giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội nêu trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 359, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Giả mạo trong công tác”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Buộc bị cáo Đặng Văn H phải nộp 100.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách à"Nhà nước theo biên lai thu tiền số 0007348 ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 327, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Đặng Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Huỳnh Thế G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Tình |
Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội giả mạo trong công tác
- Số bản án: 234/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Hưng phạm tội "Giả mạo trong công tác"
