|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 234/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/8/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Ngô Văn Bê.
Ông Hoàng Văn Thành.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 23/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXX-ST ngày 24/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐ-ST ngày 24/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Trần Đức C, sinh năm: 1980 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi đăng ký thường trú: số nhà H, ngõ B, đường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: chị Bùi Thị H, sinh năm: 1988 (vắng mặt)
Nơi đăng ký thường trú: số nhà H, tổ dân phố số B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Hiện đang lao động tại nước ngoài.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 10/5/2024 nguyên đơn là anh Trần Đức C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: trước khi kết hôn anh và chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Giang ngày 28/9/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2010 thì chị đi lao động tại nước ngoài. Thời gian đầu sau khi chị lao động tại nước ngoài thì vợ chồng thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau, nhưng sau đó vợ chồng liên lạc ít dần, đến năm 2011 chị nước nghỉ phép một tháng rồi quay lại nước ngoài làm việc kể từ đó đến nay. Từ khi chị lại nước ngoài thì anh và chị còn quan tâm, liên lạc gọi điện hỏi thăm nhau nữa, vợ chồng chấm dứt liên lạc với nhau và vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị H
Về con chung: vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 15/3/2005 và cháu Trần Đức Hải S, sinh ngày 15/11/2006. Ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu Trần Đức H và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con, con cháu Trần Khánh L trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên anh không tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị H được, nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử tại Tòa án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 cháu Trần Đức H S trình bày: cháu là con của bố Trần Đức C mẹ Bùi Thị H, hiện cháu đang ở cùng với bố là Trần Đức C. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu xin được ở với bố là Trần Đức C.
Bị đơn chị Bùi Thị H không có bản tự khai.
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ chị Bùi Thị H bà Lê Thị H, sinh năm 1958, trú tại: số nhà H, tổ dân phố số B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bà thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Trần Đức C chị Bùi Thị H; yêu cầu chị H viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua làm việc bà vẫn giữ nguyên quan điểm là chị H ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài cho Tòa án, bà đồng ý thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị H biết để chị H gửi lời khai về.
Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của chị H gửi về.
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Đức C vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Bùi Thị H vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của anh C; Biên bản làm việc với mẹ đẻ chị H là bà Lê Thị H, đơn trình bày nguyện vọng của cháu Trần Đức H S và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh Trần Đức C có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Bùi Thị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị H; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt chị H là đúng.
-Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83, 84 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đức C. Xử:
Về hôn nhân: cho anh Trần Đức C được ly hôn chị Bùi Thị H
Về con chung: giao con chung là cháu Trần Đức H S sinh ngày 15/11/2006 cho anh Trần Đức C là người trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do anh C không yêu cầu. Chị Bùi Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
Về án phí: anh Trần Đức C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng: anh Trần Đức C là nguyên đơn là người Việt Nam, hiện đang sống ở Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với chị Bùi Thị H Bị đơn chị Bùi Thị H là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang lao động ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ chị bà Lê Thị H, yêu cầu bà cung cấp địa chỉ cụ thể của chị nước ngoài nhưng bà vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn Bùi Thị H thủ tục chung.
-
Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: chị Bùi Thị H hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 10546/QLXNC-P3 ngày 20/5/2024 của Cục QBộ C1 thì chị xuất nhập cảnh 03 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 03/3/2013 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, địa chỉ cuối cùng của chị Việt Nam là: số nhà H, tổ dân phố số B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về sự vắng mặt của đương sự: anh Trần Đức C và chị Bùi Thị H, anh C đề nghị xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
-
Về quan hệ Hôn nhân: anh Trần Đức C và và chị Bùi Thị H có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2005 tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Giang Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng anh H phát sinh mâu thuẫn, anh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Đức C đối với chị Bùi Thị H Hội đồng xét xử thấy: sau khi kết hôn anh chị H chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2010 thì chị H đi nước ngoài lao động thời gian đầu khi chị H mới sang nước ngoài thì vợ chồng vẫn liên lạc và quan tâm đến nhau, kể từ năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm, liên lạc với nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa anh chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đức C. Xử cho anh Trần Đức C được ly hôn chị Bùi Thị H
-
Về con chung: anh Trần Đức C và chị Bùi Thị H có 02 con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 15/3/2005 và cháu Trần Đức Hải S, sinh ngày 15/11/2006. Hiện nay hai cháu đang ở với anh C, ly hôn anh C đề nghị được nuôi dưỡng cháu Trần Đức H S còn cháu Trần Khánh L trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con
Xét yêu cầu nuôi con chung của anh C: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị H đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Bùi Thị H từ khi đi nước ngoài thì hai cháu Trần Khánh L cháu Trần Đức H S vẫn do anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, các cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ và cháu Trần Đức H S cũng có nguyện vọng được ở với anh C. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đức C về nuôi con chung. Giao cho anh Trần Đức C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Đức Hải S, sinh ngày 15/11/2006 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung.
Sau khi ly hôn chị Bùi Thị H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: do anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về tài sản, công nợ: anh Trần Đức C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí: anh Trần Đức C phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
-
Về hôn nhân:
cho anh Trần Đức C được ly hôn với chị Bùi Thị H
-
Về con chung:
giao cháu Trần Đức Hải S, sinh ngày 15/11/2006 cho anh Trần Đức C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Chị Bùi Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
-
Về án phí:
anh Trần Đức C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001204 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (xác nhận anh Trần Đức C đã nộp đủ).
-
Về quyền kháng cáo bản án:
anh Trần Đức C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Bùi Thị H hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
7
Bản án số 234/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 234/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: anh Trần Đức C, sinh năm: 1980 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: số nhà H, ngõ B, đường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Bị đơn: chị Bùi Thị H, sinh năm: 1988 (vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: số nhà H, tổ dân phố số B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động tại nước ngoài.
