|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 234/2025/HS-ST Ngày: 16 – 12 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kim Ngân;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 288/2025/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Thị Thanh T, sinh năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; CCCD số: [...]; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Dương Thị H; bị cáo có chồng tên Phạm Hoàng M và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/7/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Lê Văn S, sinh năm 1936; nơi trú: 12/2 khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thanh D, sinh năm 1998; nơi cư trú: 1 khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Minh T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Dương Thị Thanh T có quen biết với ông Lê Văn S nhưng ít khi gặp gỡ qua lại, ông S đã lớn tuổi và sinh sống một mình tại căn nhà, địa chỉ: Số A, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025, T đến nhà ông S chơi khoảng 03 đến 04 lần.
Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 12/7/2025, bị cáo T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển số: 61B1-868.19 chở cháu nội Phạm Gia B của T đi đến nhà ông S chơi. Tại nhà ông S, bị cáo T nhìn thấy ví tiền của ông S để trên bàn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong ví để tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, lợi dụng lúc ông S đi vào phía trong nhà, T lén lút lấy trộm ví tiền của ông S rồi bế cháu B đi ra phía bên hông nhà, T mở ví rồi lấy một phần tiền bên trong bỏ vào túi quần đang mặc, còn để lại trong ví một ít tiền. Sau đó, T đi vào bên trong nhà, để ví của ông S lại vị trí cũ rồi điều khiển xe mô tô chở cháu B đi về. Tuyền đi được một đoạn thì dừng lại để lấy tiền vừa trộm được từ trong túi quần ra đếm được 2.300.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Tuyền tiêu xài cá nhân hết 1.110.000 đồng.
Ngày 13/7/2025, bà Nguyễn Thị Hồng P (là cháu ngoại của ông S) kiểm tra camera tại nhà của ông S thì phát hiện T lấy trộm tiền của ông S. Bà Phước nói với ông S kiểm tra lại tài sản trong ví thì ông S cho biết bị mất số tiền là 6.000.000 đồng. Sau đó, bà Phước cùng ông S trình báo vụ việc cho Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 15/7/2025, T đến Công an phường T đầu thú, khai nhân hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 1.190.000 đồng còn lại.
Vật chứng thu giữ:
- Số tiền 1.190.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) do Dương Thị Thanh T giao nộp, gồm:
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri: AP19881741.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri: EY2184039.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, có số seri: YR21934085.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, có số seri: VM21983753.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, có số seri: PF17304813.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, có số seri: PK16217114.
- + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, có số seri: OM20885225.
Cáo trạng số: 81/CT-VKS-KV16 ngày 30/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Tại phiên tòa:
- - Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Dương Thị Thanh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: Số tiền 1.190.000 đồng là số tiền bị cáo T có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông Lê Văn S tổng cộng 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), ông S không có yêu cầu gì khác.
- - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Ngày 12/7/2025, tại căn nhà địa chỉ: Số A, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Dương Thị Thanh T có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng) của ông Lê Văn S. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị hại Lê Văn S có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
[5] Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.
[6] Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 1.190.000 đồng bị cáo T đã nộp lại, đây là tiền bị cáo T có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 36, 48 của Bộ luật Hình sự;
- - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Dương Thị Thanh T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố H nhận được nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự, trường hợp vi phạm nghĩa vụ thì thực hiện theo quy định tại Điều 105 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.190.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
(Theo giấy nộp tiền ngày 07/11/2025 tại tài khoản “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H”, số tài khoản: 3949.0.9059775.000 tại Phòng G - Kho bạc Nhà nước Khu vực II)
3. Về án phí: Bị cáo Dương Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 234/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 234/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
