Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Bình
  2. Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Trạng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 220/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Tấn T (tên gọi khác: B), sinh ngày 07/11/1987; tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ E, khu phố G, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T1, sinh năm 1946 và bà Trương Thị L, sinh năm 1957; vợ: Võ Thị Thu N, sinh năm 1989; con có 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Ngô Thị N1, sinh năm 1981; nơi cư trú: 2 P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Đức K, sinh năm 2004; nơi cư trú: A T, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt.
  2. Anh Phan Bá H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt.
  3. Ông Trương Văn T1, sinh năm 1946; nơi cư trú: G N, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
  4. Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: E H, tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đinh Minh D, sinh năm 1996; nơi cư trú: 265/8 N, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/6/2024, chị Ngô Thị N1 (Sinh năm: 1981; trú: 2 P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) cùng gia đình đến thành phố Q du lịch và thuê phòng 502 khách sạn M, địa chỉ: C X, khu phố D, phường T, thành phố Q để lưu trú. Đến khoảng 05 giờ 30' ngày 10/6/2024, chị N1 cùng gia đình đi tắm biển nên gửi chìa khóa phòng cho Trần Đức K (Sinh năm: 2004; trú: xã C, huyện P, Bình Định; là lễ tân của khách sạn) cất giữ. Đến khoảng 05 giờ 50' cùng ngày, Trương Tấn T đến khách sạn M để thuê phòng lưu trú. Tại đây, T gặp và nói với Trần Đức K là “nhận phòng”, anh K lầm tưởng T là anh Nguyễn Trọng T2 (Chồng của chị N1) nên đã đưa chìa khóa phòng 502 cho T. Sau khi nhận chìa khoá, T đi lên mở cửa phòng 502 nhìn thấy bên trong có để nhiều đồ dùng cá nhân, T biết phòng này đã có người thuê ở nhưng trong phòng không có ai nên đã nảy sinh ý định lục tìm tài sản để lấy trộm. T quan sát thấy trên giường có để 01 túi xách, màu đen nên mở ra xem thì phát hiện bên trong có 02 xấp tiền với nhiều mệnh giá khác nhau, tổng cộng là 6.000.000 đồng, T lấy toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng cất vào ví của mình rồi đi xuống quầy lễ tân trả lại chìa khóa phòng rời đi. Đến khoảng 06 giờ 25' cùng ngày, chị N1 trở về phòng 502 khách sạn M thì phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường T, thành phố Q trình báo sự việc. Sau đó, Công an phường T, thành phố Q đã triệu tập T đến trụ sở để làm việc. Tại đây, T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, giao nộp số tiền 4.400.000 đồng còn lại sau khi đã tiêu xài và tác động gia đình tự nguyện giao nộp thêm số tiền 1.600.000 đồng để bồi thường cho bị hại. (Bút lục số: 36-45, 49-57, 59-71)

Về dân sự: Hiện bị hại N1 đã nhận lại được số tiền 6.000.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. (Bút lục số: 57)

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T3 đã tạm giữ và trả lại cho bị hại Ngô Thị N1 số tiền 6.000.000 đồng. (Bút lục số: 20, 30)

Bản Cáo trạng số: 224/CT - VKSQN ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn đã truy tố bị cáo Trương Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Tấn T khai nhận có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Ngô Thị N1. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị hại Ngô Thị N1 đã nhận lại được số tiền 6.000.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

2

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trương Tấn T từ 06 đến 09 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 05 giờ 50' ngày 10/6/2024, Trương Tấn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng của chị Ngô Thị N1 tại phòng 502 khách sạn M, địa chỉ: C X, khu phố D, phường T, thành phố Q. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Trương Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm để răng đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tôt, có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Bị cáo T có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xử bị cáo mức án có lý, có tình và không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục.

3

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Ngô Thị N1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Đối với anh Trần Đức K đã có hành vi giao chìa khoá phòng 502 cho Trương Tấn T. Tuy nhiên, việc K giao chìa khoá phòng 502 cho bị cáo T là do anh K nhầm lẫn giữa bị cáo T và anh Nguyễn Trọng T2 (chồng bị hại). Ngoài ra, anh K không bàn bạc hay hưởng được lợi gì từ việc phạm tội của bị cáo T. Do đó, hành vi của anh K không cấu thành tội phạm.

[8] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Tấn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Tấn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Tấn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử trách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2024).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    4

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Thị N1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bị cáo Trương Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hương

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 234/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger