|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 234/2024/HSST Ngày: 20 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Bà Lê Thị Sao;
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 239/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hữu T; sinh năm 1990, tại: Thừa Thiên Huế; Hộ khẩu thường trú: tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; chổ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu M, sinh năm: 1950 và bà Châu Thị Mộng T1, sinh năm 1957; vợ, con: chưa có.
Tiền án: ngày 28/03/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chưa đóng tiền án phí (Bút lục 250); ngày 19/08/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2018; ngày 26/10/2018 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2023.
Tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: ngày 24/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
2. Tạ Thành L; sinh năm 1991, tại: Phú Yên; Hộ khẩu thường trú: 60 đường I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Sỹ H (chết) và bà Đường Thị H1, sinh năm 1968; vợ: Phạm Trần Phương T2, sinh năm 1997; con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021).
Nhân thân: ngày 09/6/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2017, đã xóa án tích; ngày 08/01/2020 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2021.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: ngày 16/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Văn Đ; sinh năm 1992, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: 355/8 C, phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở hiện nay: G L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H2, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1976; vợ: Trần Bảo N, sinh năm: 1993; con: 01 người sinh năm 2017.
Tiền án: ngày 21/12/2012 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”; ngày 07/05/2013 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, tổng hợp với hình phạt với bản án ngày 21/12/2012, buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 năm 6 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015; ngày 30/08/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc Huỳnh Văn Đ chấp hành chung cho cả hai tội là 06 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021.
Tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: ngày 21/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại.
- Anh Phùng Chí N1, sinh năm 1997; trú tại: 2 Đ, phường S, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Phùng Cẩm T3, sinh năm 1993; trú tại: 2 Đ, phường S, quận T, TP (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Q, (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Khắc T4, sinh năm 2000; trú tại: ấp B, xã B, huyện C, TP (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 2000; trú tại: A N, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Phạm Trần Phương T2, sinh năm 1997; trú tại: A N, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1991; trú tại: E Đ, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Anh Phạm Khắc V, sinh năm 1983; trú tại: 1 T - T, phường T, quận T, TP. (Vắng mặt).
- Chị Đào Thị Kim T5, sinh năm 2004; trú tại: ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An (Vắng mặt).
- Anh Võ Châu N3, sinh năm 1971; trú tại: E đường T, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L là bạn quen với nhau từ trước. Do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, T mang theo dụng cụ mở ổ khóa để trong túi đeo chéo phía trước ngực điều khiển xe gắn máy biển số 55P4-2414 đến nhà Huỳnh Văn Đ tại số G L, phường T, quận T thì gặp Đ và Tạ Thành L đang ngồi sửa xe gắn máy phía trước cửa chòi. Lúc này, T rủ Đ và L đi trộm cắp tài sản, Đ và L đồng ý. Sau đó, L và Đ lấy băng keo đen có sẵn trong chòi ngủ, L dán băng keo đen lên biển số xe 59D3-350.66 của xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đen để thay đổi biển số thành 59D3-350.59 còn Đăng dán băng keo đen lên biển số 59D3-084.93 của xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu vàng-đen để thay đổi biển số xe thành 59F3-084.93 nhằm tránh bị Công an phát hiện. Sau khi thay đổi biển số xe, L điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đen biển số 59D3-350.66 (đã được thay đổi biển số), Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu vàng-đen biển số 59F3-084.93 (đã thay đổi biển số) chở T qua nhiều tuyến đường thuộc quận T, quận B, quận A, huyện H tìm tài sản sơ hở để trộm cắp.
Đến khoảng 05 giờ 50 phút cùng ngày, Đ chở T chạy phía trước còn L chạy xe theo phía sau lưu thông trong hẻm B Đ, phường S, quận T thì T phát hiện nhà số B Đ, phường S, quận T khóa cửa ngoài nên nói Đ dừng xe lại để T nhảy xuống xe đồng thời nói Đ đi đi (mục đích nói Đăng đứng gần đó để cảnh giới), còn L dừng xe tại ngã ba ngay phía sau T để cảnh giới. T đi bộ đến nhà số B Đ, phường S, quận T rồi lấy 01 cây dũa dài khoảng 10 cm và 01 thanh kim loại hình chữ Z mang theo trong túi đeo chéo trước ngực để mở ổ khóa cửa nhà. Sau khi mở được khóa cửa, T dùng tay phải mở chốt cửa và dùng tay trái đẩy cánh cửa bên trái, bước vào bên trong nhà số B Đ thì thấy cửa kéo không khóa, bên trong là cửa ra vào bằng sắt có gắn kính được khóa bằng 01 ổ khóa bên ngoài. Lúc này, T lấy bộ dụng cụ mở khóa tiếp tục mở ổ khóa trên rồi dùng tay phải mở cánh cửa bên phải và đi vào bên trong nhà thì thấy có 01 xe gắn máy hiệu Honda SH và 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario dựng trong nhà; T tiếp tục di chuyển lên lầu 1 thì thấy có 02 phòng ngủ, T đi vào bên trong phòng ngủ số 2 thấy phía trên nóc tủ nhựa cạnh tủ quần áo có 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen của anh Phùng Chí N1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, 01 nhẫn vàng loại 610 trọng lượng 5p4.5, 01 nhẫn vàng kim tiền loại 18K của chị Phùng Cẩm T3, T lấy toàn bộ số tài sản trên rồi di chuyển sang phòng số 01 tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp. Tại đây, T thấy 01 tủ nhựa màu xanh-trắng để sát góc tường (đối diện cửa ra vào), T tiến đến dùng tay phải giật mạnh làm hộc tủ phía trên cùng bên phải bung ổ khóa ra, T thấy trong hộc tủ trên có nhiều xấp tiền mệnh giá khác nhau của anh Phùng Chí N1 nên T bỏ toàn bộ tài sản đã trộm được vào hộc tủ đựng tiền rồi rút hộc tủ ra ôm bằng hai tay đi xuống tầng trệt và ra ngoài. Khi ra khỏi nhà số B Đ, phường S, quận T, T không thấy Đ mà thấy L đang đứng đợi nên T lên xe gắn máy để L điều khiển chở về nhà Đ tại số G L, phường T, quận T. Tại đây, T ôm hộc tủ đựng tài sản trộm cắp được cùng L vào chòi ngủ của Đăng kiểm tra thì thấy bên trong có nhiều tiền, nhiều mệnh giá khác nhau. Do thấy số tiền trộm được quá nhiều nên T điện thoại thông báo cho Đ biết và nói Đ về gặp L và T để giải quyết. Tiếp đó, L lấy 01 túi đệm (loại túi đựng gà) từ trong chòi của L ra, mở túi cho T đổ toàn bộ số tài sản trộm cắp được trong hộc tủ vào trong. Quá trình đổ tài sản từ hộc tủ vào túi đệm thì T giấu 02 nhẫn vàng trộm được trong lòng bàn tay không cho L thấy. Sau đó, L nói T bỏ trốn trước còn số tài sản trộm cắp được để lại cho L và Đ tìm cách giải quyết. Tiếp đó, L điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đen, biển số 59D3-350.66 cầm theo túi đệm có chứa tiền cùng 02 điện thoại di động trộm được về nhà số E N, xã B, huyện H. L lấy số tiền 40.500.000 đồng cất giấu trên nóc tủ trong phòng ngủ rồi mang túi đệm đựng tiền cùng điện thoại quay lại gặp Đ tại số G L, phường T, quận T. Khi Đ mở túi ra thấy có nhiều tiền sợ bị xử lý nặng nên đã bàn với L mang tài sản trộm cắp được đến Công an trình báo. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, khoảng 9 giờ 40 phút ngày 15/02/2024 anh Phùng Chí N1 đã đến Công an phường S, quận T trình báo.
Đến khoảng 15 giờ ngày 15/02/2024, L mang số tiền 40.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, 01 thùng giấy bên trong đựng số tiền trộm cắp được đến Công an phường S, quận T đầu thú. Tại Công an phường S, quận T, qua kiểm đếm số tiền trong thùng giấy do L giao nộp là 239.552.000 đồng (Bút lục 195).
Đối với Nguyễn Hữu T, khi trộm cắp tài sản đã cất giấu riêng 01 nhẫn vàng loại 610 trọng lượng 5p4.5, 01 nhẫn vàng kim tiền loại 18K trộm được (số vàng này L và Đ không biết). Sau khi bỏ trốn, T đã mang theo số vàng này đến phòng số 5, khu N, tổ A, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước ở cùng với bạn gái là Đào Thị Kim T5.
Ngày 20/02/2024, T đưa 01 nhẫn vàng loại 610 trọng lượng 5p4.5 cho T5 mang đi cầm nhưng không nói cho T5 biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Sau đó, T5 mang nhẫn vàng trên đến tiệm V1 địa chỉ: QL13, tổ A, Ấp C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước gặp anh Võ Văn Q1 cầm được số tiền 500.000 đồng, anh Q1 không biết nhẫn này do phạm tội mà có. Số tiền trên T5 đã đưa cho T tiêu xài cá nhân hết, đối với 01 nhẫn vàng kim tiền loại 18K, T đã làm mất chưa thu hồi được.
Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã đưa các đối tượng Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ về trụ sở Công an làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Tạ Thành L, Nguyễn Hữu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Riêng Huỳnh Văn Đ không thừa nhận đã cùng với T, L đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của L, T, biên bản đối chất giữa các bị can cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định hành vi của Huỳnh Văn Đ có đủ dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, anh Phùng Chí N1 khai nhận bị mất tổng số tiền 542.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị can Tạ Thành L, Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ không thừa nhận đã lấy trộm số tiền này mà chỉ lấy trộm tổng số tiền 280.052.000 đồng đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đồng thời cũng không có chứng nào thể hiện các bị can đã lấy trộm số tiền 542.000.000 đồng nên chưa đủ cơ sở để xử lý các bị can về hành vi trộm cắp số tiền 542.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 2236/KL-HDĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 nhẫn bằng vàng loại 610 trọng lượng 5p4.5 trị giá 2.474.329 đồng, 01 nhẫn vàng kim tiền loại 18K trọng lượng 4p237 trị giá 3.207.245 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 7 Plus trị giá 2.790.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại J7 không xác định do không rõ chất lượng còn lại, tổng trị giá 8.471.574 đồng (Bút lục 84).
Vật chứng thu giữ: Có bản kê vật chứng kèm cáo trạng
Về phần dân sự: Chị Phùng Cẩm T3 yêu cầu bồi thường số tiền 3.207.245 đồng (trị giá 01 nhẫn vàng kim tiền), Phùng Chí N1 yêu cầu các bị cạn trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 542.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn Q yêu cầu bị can T bồi thường số tiền 500.000 đồng là số tiền đã cầm chiếc nhẫn bằng vàng 3F96 (Bút lục 144).
Tại bản cáo trạng số: 261/CT-VKSQ.TP ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Tạ Thành L, Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt; bị cáo Nguyễn Hữu T từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Huỳnh Văn Đ từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt; bị cáo Tạ Thành L từ 07 năm đến 08 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
Các Bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với camara thu thập được, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 5 giờ 50 phút ngày 15/02/2024, tại nhà số B Đ, phường S, quận T, Nguyễn Hữu T, Tạ Thành L, Huỳnh Văn Đ đã có hành vi trộm cắp số tiền 280.052.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen (không xác định được trị giá tài sản) của anh Phùng Chí N1; 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 7 Plus trị giá 2.790.000 đồng của chị Phùng Cẩm T3. Ngoài ra, Nguyễn Hữu T còn có hành vi trộm cắp 01 nhẫn bằng vàng loại 610 trọng lượng 5p4.5 trị giá 2.474.329 đồng, 01 nhẫn vàng kim tiền loại 18K trọng lượng 4p237 trị giá 3.207.245 đồng của chị Phùng Cẩm T3 thì bị phát hiện bắt giữ. Tổng số tài sản Tạ Thành L, Huỳnh Văn Đ trộm cắp trị giá 282.842.000 đồng, tổng số tài sản Nguyễn Hữu T trộm cắp trị giá 288.523.574 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng số: 261/CT-VKSQ.TP ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Tạ Thành L, Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không phân công, bàn bạc và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của các bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T: bị cáo là người có nhân thân xấu. Chính bị cáo là người rủ rê lôi kéo đồng bọn thực hiện tội phạm. Chính bị cáo là người chuẩn bị công cụ phá khóa nhà để đột nhập vào trong nhà của anh Phùng Chí N1. Bị cáo là người thực hành trong vụ án.
[3.2] Đối với bị cáo Huỳnh Văn Đ: bị cáo là người có nhân thân xấu. Khi được T rủ rê thực hiện tội phạm bị cáo đã đồng ý ngay. Vai trò tham gia của bị cáo trong vụ án là người chở T đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, bị cáo là người trực tiếp lấy băng keo đen dán lên Biển số 59D3-084.93 của xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu vàng-đen thành biển số 59F3- 084.93 để tránh sự phát hiện.
[3.3] Đối với bị cáo Tạ Thành L: là người có nhân xấu, khi được T rủ rê, lôi kéo thực hiện tội phạm, bị cáo đã đồng ý ngay, bị cáo lấy băng keo đen dán lên Biển số 59D3-350.66 của xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen thành biển số 59D3- 350.59 để tránh sự phát hiện. Bị cáo là người đứng ngoài cảnh giới để T phá khóa đột nhập vào trong nhà chiếm đoạt tài sản. Sau khi đồng bọn thực hiện hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đề xuất trả lại tài sản cho người bị hại, nên được xem xét khi lượng hình.
[4] Tình tiết tăng nặng: đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Tạ Thành L đã đến Công an phường S, quận T, TP . để đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Phùng Cẩm T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu T bồi thường số tiền 3.207.245 đồng (trị giá 01 nhẫn vàng kim tiền), anh Phùng Chí N1 yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 542.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn Q yêu cầu bị can T bồi thường số tiền 500.000 đồng là số tiền đã cầm chiếc nhẫn bằng vàng 3F96 (Bút lục 144). Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử công nhận.
Cụ thể chia phần:
- Mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Phùng Chí N1 số tiền: 542.000.000 đồng – 280.052.000 đồng (đã thu hồi được) = 261.948.000 đồng : 3 = 87.316.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Phùng Cẩm T3 số tiền: 3.207.245 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q số tiền: 500.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Huỳnh Văn Đ:
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu vàng-đen, biển số: 59D3-084.93, số khung: RLCE1S9409Y035125, số máy: 1S94-035126, Đ sử dụng chở T đi trộm cắp tài sản.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím, số Imei 1: 355169429221686, số Imei 2: 355169429122975, Đ sử dụng liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo Đ.
- Đối với 01 áo thun đen có in chữ “adidas” màu trắng, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép nhựa màu đen, đã qua sử dụng (Bút lục 371). Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Nguyễn Khắc T4, thường trú: ấp B, xã B, huyện C đứng tên chủ sở hữu. Ngày 17/01/2023 anh T4 bán xe gắn máy trên cho anh Nguyễn Văn N2 có làm hợp đồng ủy quyền công chứng. Ngày 04/01/2024, anh N2 cho Đ mượn xe gắn máy đi công việc, anh N2 không biết Đ sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cần tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn N2.
- Thu giữ của Tạ Thành L:
- Đối với số tiền 280.052.000 đồng, là tiền các bị cáo trộm cắp được. Cần tuyên trả lại cho anh Phùng Chí N1.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, số I: 359173076615378, L cùng Đ và T trộm cắp được. Cần tuyên trả lại cho chị Phùng Cẩm T3.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số Imei 1: 355915103594289, số Imei 2: 355916103594287, L cùng Đ và T trộm cắp được. Cần tuyên trả lại cho anh Phùng Chí N1.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1010 màu đen, số Imei: 357678101185660, L sử dụng liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo L.
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đen; biển số: 59D3-350.66, số khung: RLCE1S92067003460, số máy: 1S92-003460, L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.
- Đối với 01 giỏ xách đệm (loại giỏ đựng gà) kích thước 30x50; 01 thùng giấy kích thước 45x35x25cm, các bị can sử dụng đựng tài sản trộm được. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (Bút lục 206). Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Xác minh xe gắn máy trên do chị Phạm Trần Phương T2, thường trú A N, phường T, quận T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/01/2024 chị T2 bán xe gắn máy trên cho anh Nguyễn Văn H3, có làm hợp đồng công chứng mua bán xe. Ngày 01/02/2024 anh H3 cho Tạ Thành L mượn xe gắn máy đi công việc. Anh H3 không biết L sử dụng xe gắn máy trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản (Bút lục F) cần tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn H3.
- Thu giữ của Nguyễn Hữu T:
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Ultimo màu trắng hồng, biển số: 55P4- 2414, số khung: RLCM23B309YO26218, số máy: 23B3-026214, T khai xe gắn máy trên được một người bạn tên B (không rõ lai lịch) cho.
- Đối với 01 túi da màu nâu bên trong có: 01 dao bằng kim loại có cán và vỏ nhựa màu đen, dài khoảng 20cm; 01 dao bằng kim loại có cán quấn băng keo màu đen dài khoảng 25cm; 01 kìm mỏ quạ bằng kim loại dài khoảng 15cm; 02 mũi đoản bằng kim loại dài khoảng 5cm; 02 thanh kim loại dẹt có đầu dạng răng cưa dài khoảng 10cm; 01 chìa khoá màu vàng có gắn mũi kim loại dài khoảng 10cm; 01 thanh kim loại hình chữ "L" dài khoảng 7cm; 01 thanh kim loại có hình chữ “Z” dài khoảng 7cm; 01 thanh kim loại đầu nhọn có cán quấn băng keo màu đen dài khoảng 15cm; 01 cây bẻ đoản bằng kim loại có cán nhựa màu đen dài khoảng 15cm; 01 ống điếu hình trụ đường kính 6mm; 01 thanh kim loại đầu dẹt, nhám, nhọn, có cán bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 15cm; 01 thanh kim loại đầu tròn, nhám, nhọn, có cán bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 17cm; 01 thanh kim loại hình chữ “L” dài khoảng 35cm; 01 thanh kim loại dẹt, nhám dài khoảng 15cm; 01 cờ lê bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 thanh kim loại hình lục giác có thân quấn băng keo màu đen, có 1 đầu dẹt, 01 đầu tua vít dài khoảng 25cm; 02 thanh kim loại loại hình lục giác có 1 đầu dẹt, 01 đầu tua vít dài khoảng 20cm, là các dụng cụ T sử dụng để trộm cắp tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, số Imei 1: 865966049058155, số Imei 2: 865966049058148, T sử dụng liên lạc cá nhân (Bút lục 253). Xét không lien quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
- Đối với 01 nhẫn kim loại màu vàng, kiểu nữ, có đính 01 viên hình tròn; 01 chiếc bông tai kim loại màu trắng-vàng, có gắn viên hình tròn, là nhẫn giả T nhặt được trên đường và bỏ vào cốp xe cất giữ. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Phạm Khắc V, thường trú: 147/36/10 T, phường T, quận T đứng tên chủ sở hữu. Anh V cho biết đã bán xe trên cho một người (chưa rõ lai lịch), không làm thủ tục mua bán, sang tên. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP. đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì sung vào ngân sách nhà nước.
- Thu giữ của anh Võ Văn Q1: 01 nhẫn kim loại màu vàng 3F96, là chiếc nhẫn Tâm trộm được của chị Phùng Cẩm T3 rồi mang đi cầm tại tiệm V1 (Bút lục 149). Cần tuyên trả lại cho chị Phùng Cẩm T3.
- Thu giữ của chị Đào Thị Kim T5: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59 M1-85664, là tài sản của chị T5 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã cho chị T5 là phù hợp.
- Thu giữ của anh Võ Châu N3: 01 dĩa CD-R hiệu Maxell, màu vàng ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án);
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 252/PNK ngày 17/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T
[8] Án phí: Các Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L đều phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu T 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Huỳnh Văn Đ 08 (Tám) năm tù.
- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Tạ Thành L 07 (Bảy) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Phùng Chí N1 số tiền: 87.316.000 đồng. Bồi thường cho chị Phùng Cẩm T3 số tiền: 3.207.245 đồng. Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q số tiền: 500.000 đồng.
- Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Phùng Chí N1 số tiền: 87.316.000 đồng.
- Buộc bị cáo Tạ Thành L phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Phùng Chí N1 số tiền: 87.316.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP . đăng tin tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với:
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn N2:
- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn Đ:
- Trả lại cho anh Phùng Chí N1:
- Trả lại cho bị cáo Tạ Thành L:
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn H3:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T:
- Trả lại cho chị Phùng Cẩm T3:
- Trả lại cho chị Đào Thị Kim T5:
- Lưu hồ sơ vụ án:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T, Tạ Thành L, Huỳnh Văn Đ. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp: 4.451.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Tạ Thành L phải nộp: 4.365.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ phải nộp: 4.365.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các Bị cáo Nguyễn Hữu T, Huỳnh Văn Đ, Tạ Thành L có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 24/02/2024.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 21/04/2024.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 16/02/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
01 áo thun đen có in chữ “adidas” màu trắng, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép nhựa màu đen, đã qua sử dụng; 01 giỏ xách đệm (loại giỏ đựng gà) kích thước 30x50; 01 thùng giấy kích thước 45x35x25cm; 01 đôi dép quai ngang màu đen; 01 túi da màu nâu bên trong có: 01 dao bằng kim loại có cán và vỏ nhựa màu đen, dài khoảng 20cm; 01 dao bằng kim loại có cán quấn băng keo màu đen dài khoảng 25cm; 01 kìm mỏ quạ bằng kim loại dài khoảng 15cm; 02 mũi đoản bằng kim loại dài khoảng 5cm; 02 thanh kim loại dẹt có đầu dạng răng cưa dài khoảng 10cm; 01 chìa khoá màu vàng có gắn mũi kim loại dài khoảng 10cm; 01 thanh kim loại hình chữ "L" dài khoảng 7cm; 01 thanh kim loại có hình chữ “Z” dài khoảng 7cm; 01 thanh kim loại đầu nhọn có cán quấn băng keo màu đen dài khoảng 15cm; 01 cây bẻ đoản bằng kim loại có cán nhựa màu đen dài khoảng 15cm; 01 ống điếu hình trụ đường kính 6mm; 01 thanh kim loại đầu dẹt, nhám, nhọn, có cán bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 15cm; 01 thanh kim loại đầu tròn, nhám, nhọn, có cán bọc nhựa màu đỏ dài khoảng 17cm; 01 thanh kim loại hình chữ “L” dài khoảng 35cm; 01 thanh kim loại dẹt, nhám dài khoảng 15cm; 01 cờ lê bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 thanh kim loại hình lục giác có thân quấn băng keo màu đen, có 1 đầu dẹt, 01 đầu tua vít dài khoảng 25cm; 02 thanh kim loại loại hình lục giác có 1 đầu dẹt, 01 đầu tua vít dài khoảng 20cm; 01 nhẫn kim loại màu vàng, kiểu nữ, có đính 01 viên hình tròn; 01 chiếc bông tai kim loại màu trắng-vàng, có gắn viên hình tròn, là nhẫn giả T nhặt được trên đường và bỏ vào cốp xe cất giữ.
01 xe gắn máy hiệu Yamaha Ultimo màu trắng hồng, biển số: 55P4- 2414, số khung: RLCM23B309YO26218, số máy: 23B3-026214.
01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu vàng-đen, biển số: 59D3-084.93, số khung: RLCE1S9409Y035125, số máy: 1S94-035126.
01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím, số Imei 1: 355169429221686, số Imei 2: 355169429122975.
số tiền 280.052.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen, số Imei 1: 355915103594289, số Imei 2: 355916103594287.
01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1010 màu đen, số I: 357678101185660.
01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đen; biển số: 59D3-350.66, số khung: RLCE1S92067003460, số máy: 1S92-003460.
01 điện thoại di động hiệu hiệu Vivo màu đen, số Imei 1: 865966049058155, số Imei 2: 865966049058148.
01 nhẫn kim loại màu vàng 3F96; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, số I: 359173076615378.
01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 59 M1-85664.
01 dĩa CD-R hiệu Maxell, màu vàng ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 252/PNK ngày 17/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T (Bút lục A).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 234/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 234/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
