Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS-ST.

Ngày: 04-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Bà Lê Thị Kiều Thu

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 10 năm 2024 và ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2024/HSST-QĐ ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

Lê Thanh T (tên gọi khác: H) - sinh ngày 11/10/1991, tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Không cố định; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1961; Vợ: Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1993 (đã ly hôn), con: có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án, Tiền sự: Không có;

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt.

* Bị hại: Trần Việt H1, sinh năm 2000 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, Bình Thuận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/02/2024, Lê Thanh T đi bộ trên các tuyến đường thuộc phường L, thành phố P tìm tài sản của người dân để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi T đi đến trước số nhà B đường N, thuộc khu phố G, phường L, thành phố P, T phát hiện xe mô tô biển số 86H6 – 0188 của anh Trần Việt H1 đang dựng trên vỉa hè, trên xe có sẵn chìa khoá. Quan sát thấy không có người trông coi, T lén lút đến gần mở khoá rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát về phường P, thành phố P để lẩn trốn. Đến 12 giờ 20 phút cùng ngày, anh H1 ra về thì phát hiện xe mô tô bị mất nên đến Công an phường L trình báo sự việc.

Qua kiểm tra hình ảnh từ camera an ninh, Công an phường L phát hiện Lê Thanh T là người lấy trộm xe mô tô biển số 86H6 – 0188 trên nên đã triệu tập T về trụ sở làm việc. Tại đây, T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp xe mô tô trên.

Vật chứng thu giữ:

Tạm giữ từ Lê Thanh T: 01 xe mô tô hiệu Wayman, màu đỏ đen, biển số 86H6 – 0188, số máy 152FMH113104, số khung H1RH6A113104.

Tạm giữ từ Công an phường L: 01 USB màu xanh dương hiệu All in one, dung lượng 2GB, bên trong chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Lê Thanh T trộm cắp tài sản vào ngày 18/02/2024 tại khu phố G, phường L, thành phố P.

Tại Kết luận định giá tài sản số 98/KL – HĐĐGTS ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:

Xe mô tô biển số 86H6 – 0188, màu đỏ đen, số máy 152FMH113104, số khung H1RH6A113104, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, tại thời điểm định giá ngày 18/02/2024 là 3.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại 01 xe mô tô biển số 86H6 – 0188, màu đỏ đen, số máy 152FMH113104, số khung H1RH6A113104 cho anh Trần Việt H1, anh H1 không yêu cầu Lê Thanh T bồi thường về dân sự.

Đối với 01 USB màu xanh dương hiệu All in one, dung lượng 2GB, bên trong chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Lê Thanh T trộm cắp tài sản vào ngày 18/02/2024 tại khu phố G, phường L, thành phố P được lưu cùng hồ sơ vụ án để xét xử.

Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của bị hại trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo Lê Thanh T lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe mô tô biển số biển số 86H6 – 0188, màu đỏ đen trị giá 3.000.000 đồng của anh H1.

Với hành vi nêu trên, ngày 12/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 192/CT-VKS truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe mô tô biển số biển số 86H6 – 0188, màu đỏ đen trị giá 3.000.000 đồng của anh H1, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù.

Đối với 01 USB màu xanh dương hiệu All in one, dung lượng 2GB, bên trong chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Lê Thanh T trộm cắp tài sản vào ngày 18/02/2024 được lưu cùng hồ sơ vụ án để xét xử.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết. Bị cáo biết việc làm của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/02/2024, tại trước số nhà B đường N, thuộc khu phố G, phường L, thành phố P, Lê Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Wayman, màu đỏ đen, biển số 86H6 – 0188 trị giá 3.000.000 đồng của anh Trần Việt H1.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 xe mô tô hiệu Wayman, màu đỏ đen, biển số 86H6 – 0188 trị giá 3.000.000 đồng của anh Trần Việt H1 đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 192/CT-VKS ngày 12/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo không chỉ đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Bị cáo T có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo T được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răng đe giáo dục bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 USB màu xanh dương hiệu All in one, dung lượng 2GB, bên trong chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Lê Thanh T trộm cắp tài sản vào ngày 18/02/2024 tại khu phố G, phường L, thành phố P được lưu cùng hồ sơ vụ án.

[7] Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2024.
  • Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo T nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo; báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/11/2024); bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tp Phan Thiết;
  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -Công an thành phố Phan Thiết;
  • - UBND phường Phú Hài, tp. Phan Thiết;
  • -Công an phường Phú Hài, tp. Phan Thiết;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

PHAN THỊ THÁI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 234/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Tú phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger