Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS - ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Vũ Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Thư – Giáo viên nghỉ hưu
Ông Nguyễn Gia Phúc
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Trần Phương Ly
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Lương Tuấn Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 204/2024/HSST ngày 04/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: Nguyễn Anh T - Sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn G, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức T1 - sinh năm 1979; Con bà: Trần Thị H - sinh năm 1984; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 người con, bị cáo là con cả; Vợ, con: Chưa có; D chỉ bản số 10 lập ngày 24/01/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiên án, tiên sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).

Người bị hại: Chị Lê Thị H1, sinh năm 2006.

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn T2 ( bố đẻ chị Lê Thị H1); Địa chỉ: Xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Lê Thị H1 (sinh ngày 27/12/2006; trú tại: thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) và Nguyễn Anh T là nhân viên học việc tại cửa hàng Thủy Nguyễn N, mi địa chỉ số I N, phường V, quận Đ, Hà Nội. Tối 02/09/2023, cửa hàng tổ chức liên hoan cho nhân viên tại địa chỉ A V, quận Đ, Hà Nội. Trong khi ăn uống, chị H1 uống rượu say nên ngủ tại bàn rượu. Do anh Đào Tùng L (sinh năm: 1998; trú tại: số I ngách D A, Y, T, Hà Nội) không uống rượu bia nên mọi người có bảo anh L lái xe máy chở chị H1 và Nguyễn Anh T (ngồi sau để giữ chị H1) về cửa hàng Thủy Nguyễn N, mi địa chỉ số I N để nghỉ. Khi về đến cửa hàng, T bế chị H1 lên tầng 4 nhà số I N, đặt chị H1 nằm lên ghế sofa đặt tại phòng tầng 4 rồi xuống nói với anh L quay lại với mọi người, T không quay lại do sáng sớm mai T về quê sớm nên L đã rời đi. Lúc này T khóa cửa nhà số I N rồi lên tầng 4 lau dọn vết nôn dính trên sàn nhà, ghế sofa và trên người của chị H1. Sau khi lau dọn thì T đi tắm, lúc này T nảy sinh ham muốn quan hệ tình dục với chị H1 do trước đó có dùng khăn lau người cho chị H1. T đi ra ghế sofa lay chị H1 thì không thấy chị H1 phản ứng lại nên đã cởi quần của chị H1 và của mình ra. T dùng tay phải sờ vào âm đạo của chị H1 khoảng 01 phút thì thấy âm đạo của chị H1 ướt nên đã cho dương vật của mình vào âm đạo của chị H1 để quan hệ tình dục. Được khoảng 02 phút thì T có cảm giác muốn xuất tinh nên đã rút dương vật ra nhưng vẫn xuất tinh một ít trong âm đạo của chị H1 và xuất tinh ra ghế sofa. Sau đó, T dùng khăn lau tinh dịch trên ghế sofa rồi mặc quần lại cho chị H1 và để chị H1 ngủ trên ghế còn T đi ngủ ở phòng khác. Sáng hôm sau chị H1 tỉnh dậy thấy người bị mệt thì nghĩ là do tối hôm trước uống nhiều rượu và bị nôn nên đã không nghi ngờ gì. Ngày 13/12/2023, do chị H1 thấy mình bị chậm chu kỳ kinh nguyệt khoảng 04 tháng nên đã đi khám thì biết mình có thai. Nhận thấy mình chưa có người yêu và chưa quan hệ tình dục với ai nên chị H1 có hỏi lại những người trong cửa hàng tại số I N thì được biết ngày 02/9/2023, Nguyễn Anh T có đưa chị về cửa hàng để ngủ khi chị say rượu. Chị H1 có hỏi lại Nguyễn Anh T, T đã thừa nhận lợi dụng lúc chị say rượu đã quan hệ tình dục trái ý muốn với chị nên chị H1 đã làm đơn trình bảo gửi cơ quan công an.

Sau đó, Gia đình chị Lê Thị H1 đã đưa chị H1 đến Bệnh viện P để tiến hành thủ thuật can thiệp bỏ phôi thai.

Tại bản Kết luận giám định ADN số 248/23/KLGDADN-PYHN ngày 27/12/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận:

“Nguyễn Anh T có quan hệ huyết thống bố - con với bào thai của chị Lê Thị H1, độ tin cậy 99,9999%".

Tại bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số 551/KLXHTD-TTPY ngày 02/5/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận:

“- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị H1 tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

- Tại thời điểm giám định màng trinh: Có vết rách cũ vị trí 3 giờ và 9 giờ, không có vết rách mới, không có vết sây sát sưng nề bầm tím, lỗ màng trinh giãn rộng.”

Trách nhiệm dân sự

Chị Lê Thị H1 yêu cầu Nguyễn Anh T bồi thường số tiền 500.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí khám, phục hồi sức khỏe và tổn thất về tinh thần.

Cáo trạng số 206/CT-VKSTX ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Hiếp dâm” theo điểm g khoản 2 Điêu 141 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Hiếp dâm” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đê nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm g, khoản 2 Điêu 141; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điêu 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Hiếp dâm”.

Về hình phạt bổ sung: Không; Về xử lý vật chứng: Không

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường tiền chi phí khám chữa bệnh và tiền tổn thất tinh thần cho bị hại theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Yêu cầu bị cáo phải bồi thường 38.959.962 đồng bao gồm 15.959.620 đồng chi phí khám, chữa bệnh và 23.000.000 đồng bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm và tinh thần.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm khuyết điểm trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điêu tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến về việc vắng mặt người bị hại và đê nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy việc vắng mặt bị hại tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên căn cứ Điều 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[3] Vê tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định ADN, kết luận giám định xâm hại tình dục và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 02 tháng 9 năm 2023, tại tầng 4 nhà số I N, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội, lợi dụng chị Lê Thị H1 say rượu, Nguyễn Anh T đã có hành vi cởi quần của chị H1 và cho dương vật của mình vào âm đạo của chị H1 để quan hệ tình dục trái với ý muốn của chị Lê Thị H1, gây hậu quả làm chị H1 có thai. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điêu 141 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa căn cứ vào hành vi “ giao cấu trái ý muốn” của bị cáo và hậu quả bị hại có thai, truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo đã lợi dụng tình trạng bị hại chị Lê Thị H1 say rượu, không tỉnh táo để giao cấu trái với ý muốn của chị H1. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyên nhân thân, sức khoẻ và tinh thân của con người được pháp luật bảo vệ, đặc biệt gây hậu quả làm chị H1 có thai ngoài ý muốn, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người chưa thành niên, gây hoang mang trong quân chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc giao cấu trái ý muốn với người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì ham muốn, thoả mãn dục vọng nên vẫn cố tình thực hiện hành vi giao cấu với bị hại. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cân phải xử phạt bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điêu tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt đây là lân đâu tiên bị đưa ra truy tố, xét xử, sau khi phạm tội bị cáo đâu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật hình sự.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường 38.959.962 đồng bao gồm 15.959.620 đồng chi phí khám, chữa bệnh và 23.000.000 đồng bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm và tinh thần. Xét thấy, yêu cầu bồi thường này là chính đáng, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 590, Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T2. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải bồi thường cho chị Lê Thị H1 số tiền 38.959.962 đồng. (ba mươi tám triệu chín trăm năm mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

[4] Về xử lý vật chứng: Không

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điêu 141; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

2/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Hiếp dâm”.

3/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 07 ( bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

4/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điêu 48 BLHS; Điêu 584, 585, 586, 590 và Điêu 592 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải bồi thường số tiên 15.959.620 đồng chi phí khám, chữa bệnh và bồi thường tổn thất về danh dự, nhân phẩm, tinh thân số tiên 23.000.000 đồng. Tổng số tiên mà bị cáo T phải bồi thường là 38.959.962 đồng (ba mươi tám triệu chín trăm năm mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyên có đơn yêu câu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Anh T chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi suất đối với số tiên chậm trả theo quy định tại các Điêu 357, Điêu 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/ Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: Điêu 136, Điêu 331, Điêu 333, Điêu 336, Điêu 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Áp dụng: Điêu 21, Điêu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 1.947.998 đồng ( một triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi tám đông) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyên kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại và đại diện hợp pháp
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS - ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (hiếp dâm)

  • Số bản án: 234/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hiếp dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger