TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Số: 234/2024/DS-ST Ngày 18 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 952/2023/ TLST- DS, ngày 29 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 329/2024/QĐST-DS, ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Hoàng Quốc P, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk.
- - Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hằng N, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: Số B Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- - Bị đơn: Ông Cao Hữu B, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số A đường A, thôn F, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Đỗ Thị Hằng N trình bày:
Trước đây, Ông Hoàng Quốc P có quen biết ông Cao Hữu B khi ông B đi làm tại huyện M'Đrắk cùng với ông P. Trong thời gian này, ông B có vay ông P số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) để giải quyết công việc. Do tin tưởng ông B nên vào ngày 15/9/2015, ông P đã cho ông B vay số tiền 80.000.000 đồng, ông B hẹn đến 15/9/2016 sẽ trả cho ông P số tiền trên. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ, mặc dù ông P đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông B cố tình không trả, ông P lên gặp thì ông B hứa miệng đến cuối năm 2021 sẽ trả cho ông P toàn bộ số tiền trên. Do đó, ông P đã đồng ý gia hạn thời gian trả nợ cho ông B đến ngày 01 tháng 12 năm 2021 (hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau). Đến thời hạn trả nợ, ông P đã đến nhà ông B để yêu cầu ông B trả cho ông P số tiền nợ trên nhưng ông B cố tình không trả mà cứ hứa hẹn.
Do đó, ông P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông P số tiền là 96.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín mươi sáu triệu đồng), trong đó tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi suất tạm tính từ ngày 02/12/2021 đến ngày 18/9/2024 là 80.000.000 đồng x 10%/năm x 1.022 ngày/365 ngày = 22.400.000 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tòa án giải quyết buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông P số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng; Về tiền lãi: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng cho bị đơn ông Cao Hữu B đúng trình tự tố tụng dân sự nhưng bị đơn ông Cao Hữu B đều vắng mặt, không có lý do.
Do Bị đơn vắng mặt nên Nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết. Tại Kết luận giám định số 1095/KL-KTHS, ngày 04/8/2024, kết luận: “Nội dung chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Hữu B trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Hữu B trên tài liệu cần so sánh kí hiệu M1 do cùng một người ký và viết ra”.
Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa ngày 26/8/2024, bị đơn ông Cao Hữu B vắng mặt, lần thứ nhất không có lý do. Vì vậy, căn cứ các Điều 227, Điều 233 và Điều 235, HĐXX hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của Nguyên đơn; Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Đây là “Tranh chấp đòi lại tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Hoàng Quốc P.
Buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông Hoàng Quốc P số tiền nợ gốc: 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
Về tiền lãi: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Hoàng Quốc P cho ông Cao Hữu B vay tiền. Tại giấy vay tiền, có nội dung hẹn trả vào ngày 15/9/2016. Đến ngày 05/12/2023, ông P mới khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông B trả số tiền đã vay. Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình xét xử vụ án, bị đơn ông Cao Hữu B vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó HĐXX xét xử vắng mặt Bị đơn, Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại đơn khởi kiện, Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông P số tiền là 96.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín mươi sáu triệu đồng), trong đó tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng và tiền lãi suất tạm tính từ ngày 02/12/2021 đến ngày 02/12/2023 là 80.000.000 đồng x 10%/năm x 24 tháng = 16.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tòa án giải quyết buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông P số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng; Về tiền lãi: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vì vậy, căn cứ Điều 244 BLTTDS, HĐXX chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đơn.
[3] Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Hoàng Quốc P cho bị đơn ông Cao Hữu B vay số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Việc vay tiền được lập thành văn bản nhưng hai bên không thỏa thuận lãi suất, không đề ngày vay. Ông B có ghi nội dung hẹn trả vào ngày 15/9/2016 sẽ trả đủ. Tuy nhiên, Nguyên đơn cho rằng kể từ ngày vay tiền đến nay bị đơn chưa trả được cho nguyên đơn số tiền nào cả nên đã khởi kiện ra Tòa án.
Xét việc xác lập giấy vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 471 và Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Do phía ông P cho rằng ông B đã không thực hiện việc trả nợ đúng thời hạn như cam kết theo nên đã khởi kiện vụ án là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX cần xem xét, giải quyết.
[3.1] Về số nợ gốc:
Căn cứ chứng cứ mà ông P cung cấp thể hiện nội dung: Ông Cao Hữu B ở tại H có mượn của ông Hoàng Quốc P 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Hẹn ngày 15/9/2016, ông B sẽ trả đủ.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Cao Hữu B vắng mặt không có lý do, do đó Nguyên đơn đã có đơn đề nghị giám định chữ ký, chữ viết; Kết luận giám định số 1095/KL-KTHS, ngày 04/8/2024, kết luận: “Nội dung chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Hữu B trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Cao Hữu B trên tài liệu cần so sánh kí hiệu M1 do cùng một người ký và viết ra”.
Căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Kết luận giám định chữ ký nói trên đã có cơ sở xác định ông Cao Hữu B vay của ông Hoàng Quốc P số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005. Việc ông B không trả được nợ khi đến hạn như cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005. Vì vậy, ông P khởi kiện yêu cầu ông B trả nợ là có căn cứ, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc ông B có trách nhiệm trả nợ cho ông P số tiền nợ gốc 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3.2] Về tiền lãi:
Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4] Về chi phí tố tụng:
Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 6.500.000đ; Do kết quả giám định chứng minh yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên bị đơn ông Cao Hữu B phải chịu chi phí giám định là 6.500.000đ, Nguyên đơn ông Hoàng Quốc P được nhận lại số tiền trên sau khi thu được của ông Cao Hữu B là phù hợp quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 161, 227, 228, 244, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 166, 463, 465, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Hoàng Quốc P;
- Buộc ông Cao Hữu B phải trả cho ông Hoàng Quốc P số tiền nợ gốc là: 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Ông Cao Hữu B phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng), ông Hoàng Quốc P không phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết và được nhận lại số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng chi phí đã nộp sau khi thu được của ông Cao Hữu B.
- Về án phí:
- Bị đơn ông Cao Hữu B phải nộp 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn ông Hoàng Quốc P được nhận lại số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0004593 ngày 19/12/2023 (Bà Trương Thúy V nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
* Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS”./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 234/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 234/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
