| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 234/2024/HNGĐ-ST | |
| Ngày: 17/7/2024 | |
| “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh
Ông Nguyễn Văn Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 232/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2024/QĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hạnh D, sinh ngày 09/4/1991.
- Bị đơn : Anh Nguyễn Văn Q, sinh ngày 11/02/1990.
Địa chỉ: Số B phố V, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số 29 phố Vườn Cám, phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
( Chị D, anh Q đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Hạnh D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là phường H, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 26/7/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 6 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Để phát triển kinh tế năm 2019 chị và anh Q đều sang Đài Loan lao động, nhưng mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Cuối tháng 3/2024 chị đã về Việt Nam, nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, để sớm ổn định cuộc sống của cả hai bên, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Anh H, sinh ngày 14/7/2010 và Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 15/9/2016. Trong thời gian chị và anh Q ở nước ngoài các con được ông bà ngoại chăm sóc, nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Q không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Anh Nguyễn Văn Q hiện đang lao động tại Đài Loan, do chị D không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Q nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Q thông qua gia đình. Bà Hà Thị M là mẹ đẻ anh Q xác định, cuối năm 2018 anh Q đi Đài Loan lao động, từ khi đi anh Q chưa về Việt Nam lần nào. Địa chỉ của anh Q ở nước ngoài hiện bà và gia đình không biết, nhưng anh Q vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình bằng điện thoại. Bà M đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Q biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh Q đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Anh và chị H1 có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do năm 2017 anh làm ăn kinh tế bị thua lỗ nên đã bán nhà, vợ và các con phải về nhà ngoại sinh sống. Mặc dù anh và chị D đều sang Đài Loan lao động nhưng mỗi người ở một nơi, hai bên không quan tâm đến nhau. Mục đích chị D ly hôn anh là để kết hôn với người Đài Loan nên anh không đồng ý ly hôn. Anh cũng không có biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, trường hợp chị D không rút đơn ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị D. Về con chung, anh và chị D có hai con chung, hiện hai con đang ở cùng ông bà ngoại, do anh chưa đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến quan điểm về con. Về tài sản chung, nợ chung, anh không có ý kiến, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Hà Thị M thay anh nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Cháu Nguyễn Anh H và Nguyễn Thị Phương U là con chung của chị D và anh Q có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị D được ly hôn anh Q. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh H, sinh ngày 14/7/2010 và Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 15/9/2016 cho chị Nguyễn Hạnh D nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Do các bên không đề nghị, nên không xem xét. Về án phí: Chị D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Chị Nguyễn Hạnh D và anh Nguyễn Văn Q đều có Hộ khẩu thường trú tại: Số B phố V, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Hiện anh Q đang lao động tại Đài Loan, do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị D không cung cấp được địa chỉ của anh Q tại Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh Q cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh Q được biết, anh Q thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Hà Thị M. Bà M đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Q biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Chị D, anh Q đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D1 và anh Nguyễn Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là phường H, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 26/7/2010, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù anh Q, chị D1 đều ở Đài Loan nhưng mỗi người sống một nơi, hai bên thiếu sự quan tâm, chia sẻ dẫn đến mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Nay chị D1 xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh Q. Quá trình giải quyết vụ án, anh Q cho rằng mục đích chị D1 ly hôn là để kết hôn với người Đài Loan nên anh không đồng ý. Tuy nhiên bản thân anh cũng xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu, không ai quan tâm đến ai, anh Q cũng không có quan điểm mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị D1 và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D1.
- Về con chung: Chị Nguyễn Hạnh D và anh Nguyễn Văn Q có hai con chung là Nguyễn Anh H, sinh ngày 14/7/2010 và Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 15/9/2016. Hiện nay hai con đang ở cùng chị và ông bà ngoại, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi hai con, các con cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Mặc dù anh Q không có quan điểm, ý kiến về con chung khi ly hôn nhưng xét thấy, cháu H và cháu U sống cùng ông bà ngoại từ nhỏ. Trong thời gian anh Q, chị D đi nước ngoài, hai cháu được ông bà ngoại chăm sóc, các cháu phát triển tốt. Hiện tại chị D đã về Việt Nam, anh Q ở nước ngoài nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Do đó cần tiếp tục giao cháu H, cháu U cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, do chị D có quan điểm các bên sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Nguyễn Hạnh D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Hạnh D được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Anh H, sinh ngày 14/7/2010 và Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 15/9/2016 cho chị Nguyễn Hạnh D chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi.
- Về án phí: Chị Nguyễn Hạnh D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000672 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hạnh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn Q được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 234/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 234/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dung
