|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2024/HNGĐ - ST Ngày: 17 - 4 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Phan Thị Phượng;
Bà Trương Thị Thu Thuỷ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú: Áp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Lượm Đ, sinh năm 1989; Trú tại tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/02/2024 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L Được tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2013, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng không hoà hợp, vợ chồng cải vả nhau ông Đ dùng vũ lực đánh đập bà D, mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm hơn, vợ chồng đã ly thân năm 2023 đến nay, vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nên bà D xin ly hôn với ông Đ.
- Về con chung: Bà D và ông Đ chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/01/2014, hiện con chung đang ở với ông Đ, ly hôn bà D đồng ý giao con chung cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, bà D không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L Được trình bày: Thống nhất như trình bày của bà D về thời gian chung sống, ly thân. Về mâu thuẫn của vợ chồng không lớn, ông Đ thừa nhận đôi lúc vợ chồng cải vả nhau có đánh bà D, nhưng mâu thuẫn chủ yếu là ông không nghe lời bà D mua xe Wave thường sử dụng mà ông mua xe Wave 125cc Fi với số tiền đến 94.000.000đ nên vợ chồng mâu thuẫn cải vả nhau, bà D đã về nhà cha mẹ vợ ở và vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm nay. Ông Đ có đến thăm bà D nhưng đều bị đuổi về, không có cơ hội hàn gắn với vợ. Nay bà D xin ly hôn, ông Đ không đồng ý, xin đoàn tụ. Về con chung: Ông Đ và bà D chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/01/2014, hiện con chung đang ở với ông Đ, nếu ly hôn ông Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà:
Bà D và ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà D và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Bà D và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/01/2014, hiện con chung đang ở với ông Đ, ly hôn bà D đồng ý giao con chung cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung nên đề nghị giao con chung cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 80 của Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung ông Đ không yêu cầu nên đền N không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông Đ không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn L Được thường trú tại xã B, huyện C. Bà D khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà D và ông Đ chung sống với nhau năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng không hoà hợp, vợ chồng cải vả nhau ông Đ dùng vũ lực đánh đập bà D, mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm hơn, vợ chồng đã ly thân năm 2023 đến nay, vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nên bà D xin ly hôn với ông Đ. Ông Đ không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con, cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn lớn. Xét, bà D và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly thân đã hơn 01 năm, trong thời gian ly thân vợ chồng đã không tự hàn gắn được, bà D không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, Toà án đã tiến hành hoà giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành và bà D kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng giữa bà D và ông Đ đã không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân hơn 01 năm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.
Về con chung: Bà D và ông Đ chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/01/2014, hiện con chung đang ở với ông Đ, ly hôn bà D đồng ý giao con chung cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Xét cháu T đang ở với ông Đ, do ông Đ chăm sóc nuôi dưỡng ổn định và ông Đ có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T nên Hội đồng xét xử giao cháu T cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 80 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Đ không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Bà D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 80; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn L Được.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/01/2014 cho ông Nguyễn Văn L Được được trực tiếp nuôi dưỡng.Bà Nguyễn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Đ cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở bà D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005463 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |
Bản án số 234/2024/HNGĐ - ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 234/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung (Dàng- Lượm Được)
