TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 234/2023/DS-PT Ngày: 16/9/2024 "V/v tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 195/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 267/2023/QĐ-PT ngày 06/11/2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị C; Sinh năm 1950; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
- - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Việt H; Sinh năm 1966; Địa chỉ: L đường C khu dân cư M, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 05/02/2020) (có mặt)
- - Bị đơn: Bà Trần Thị Y; Sinh năm 1942; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (văng mặt)
- - Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Xái N; Sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 22/5/2023) (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Liêu Tùy K; Sinh năm 1937: Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của ông K: Bà Trần Thị C; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 25/5/2023) (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Xái N; Sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Ông Thái Văn K1; Sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Thái Thị Muỗi C1; Sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (văng mặt);
- Ông Thái Văn K2; Sinh năm 2001; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
- Ông Thái Văn K3; Sinh năm 2005; Địa chỉ cư trú: Số G, khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
- - Người kháng cáo: Ông Trần Việt H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong vụ án
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2019 của nguyên đơn bà Trần Thị C, đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 06/6/2022, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của bà Trần Thị C là ông Trần P và bà Lâm Thị Dù H1 (ông P và bà H1 chết từ lâu nhưng bà không nhớ rõ năm nào). Vào năm 1995, cha mẹ của bà C đã chia cho 04 người con bao gồm: Trần Thị T, Trần Thị Y, Trần Thị S và bà Trần Thị C mỗi người 01 nền nhà liền kề nhau. Ban đầu cha mẹ của bà C chia cho bà C trước, sau đó mới chia cho 03 người con còn lại. Sau khi được chia đất, bà C mới cất nhà trên phần đất được chia. Tuy nhiên, phần đất giáp với bà Y thì bà C có chừa ra 0,4m để làm lối đi.
Trong quá trình sử dụng đất, đến ngày 23/6/2016 bà Trần Thị Y xây dựng nhà lấn qua hết con hẻm (lối đi của bà chừa ra) 0,4m nêu trên và lấn phần diện tích 45,4m² nằm phía sau nhà của bà C tại thửa 1191, tờ bản đồ số 08; tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Sự việc đã được Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai Phường B, thị xã V tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại biên bản hòa giải cơ sở bà Trần Thị Y cũng trình bày và thừa nhận đất gốc của cha mẹ để lại và cha mẹ đã chia đều cho các người con từ trước ra sau, mỗi người 2.190m². Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/9/2021, diện tích theo bà Y chỉ ranh là 3.483,7m². Như vậy, so với diện tích mà bà Y đã được cha mẹ cho trước đây thì bà Y thừa gần 1.300m².
Đối với thửa đất 1191, tờ bản đồ số 08 mà bà Trần Thị C và ông Liêu Tùy K được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp vào ngày 05/12/2012 với diện tích 319,8m². Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/9/2021 thì diện tích đất theo sự chỉ ranh của bà C là 378,7m² là có dư so với giấy chứng nhận trên 50m². Tuy nhiên, thửa 1191, tờ bản đồ số 08 nêu trên của bà C, ông K được cấp quyền sử dụng được tách ra từ thửa gốc 306 (thửa đất gốc của cha mẹ của bà C để lại). Mặt khác, tại biên bản xác minh đo đạc vào ngày 10/11/1998 thì các thành viên trong gia đình của bà C, bà Y, bà T mỗi người được chia 2.190m² (trong đó có 300 đất thổ cư). Như vậy, thửa đất của bà C khi được cấp là thiếu nhiều so với diện tích đã được cho trước đây.
Ngoài ra, theo kết quả đo đạc thực tế cạnh chiều ngang cặp lộ N mà bà C đang quản lý sử dụng là 8,89m cộng với phần tranh chấp có chiều ngang 0,53m, nên chiều ngang cặp lộ Nam Sông H2 có tổng chiều dài theo sự chỉ ranh của bà C là 9,42m. Theo số liệu đo đạc mà bà C đã được cấp quyền sử dụng vào năm 2012 thì cạnh chiều ngang này có số đo là 9,27m, có chênh lệch 0,15m. Như vậy, qua so sánh số đo nêu chứng tỏ rằng bà Y có lấn ranh đất bà C.
Nay bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc bà Trần Thị Y trả lại phần đất lấn chiếm qua kết quả đo đạc thực tế theo sự chỉ ranh của bà C như sau:
- Phần đất có diện tích 8,4m², vị trí tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), thuộc thửa 306 có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa đất của bà Trần Thị Y, có số đo 11,63m + 11,14m + 12,49m.
- Hướng Tây giáp thửa 1191 của bà Trần Thị C, có số đo 11,62m + 23,67m.
- Hướng Nam là giao điểm chiều dài cạnh Hướng Đông phần đất bà Y với chiều dài cạnh Hướng Tây giáp phần đất của bà C.
- Hướng Bắc giáp đường N, có số đo 0,53m.
- Phần đất thuộc thửa 306 có diện tích 45,4m², tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 6,65m.
- Hướng Tây giáp đất của bà Trần Thị C, có số đo 5,21m + 0,46m.
- Hướng Nam giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 7,15m.
- Hướng Bắc giáp thửa đất của bà Trần Thị C, có số đo 7,61m.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 25/11/2020 đối với bị đơn bà Trần Thị Y, trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa, bà Trần Thị Xái N là người đại theo ủy quyền cho bị đơn, đồng thời bà N cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà là con ruột của bà Trần Thị Y. Đối với phần đất có căn nhà của bà Trần Thị C, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T và Trần Thị X là đất gốc của ông bà ngoại tên Trần P (chết năm 1988), bà bà Lâm Thị Dù H1 (chết tháng 10 âm lịch năm 2001) chia cho. Trước đây, khi bà C cất nhà thì bà C đã cất hết chiều ngang phần đất được ông bà ngoại cho. Khi cất nhà bà C có xây ô quăng phía trước nhà của bà C lấn qua phần đất của bà Y, khi đó bà Y có nói thì bà C cho rằng: Chị em với nhau không có gì đâu sau này có cất nhà cho các con của bà Y thì bà cắt bỏ phần ô quăng để trả lại phần trên không. Đối với nền đất có căn nhà của bà Y đang ở hiện nay, trước đây là căn nhà của ông ngoại để lại cho bà Y. Đến năm 2016, căn nhà của ông bà ngoại đã bị hư nên bà Y mới cất lại. Khi cất lại thì bà Y cất nhỏ hơn căn nhà trước đây của ông ngoại để lại. Giáp với phần căn nhà của bà C còn một phần đất trống là phần đất của bà Y chừa ra chứ không phải là đất của bà C, mẹ của bà không có lấn đất của bà C như bà C trình bày.
Đối với phần đất phía sau: Trước đây vào năm 2001, thời điểm đó bà ngoại của bà đã bệnh, khi đó các chị em của bà Y, bà C, bà X, bà T có thỏa thuận chia cho bà Y phần đất phía sau nhà của bà C (vị trí mà bà C cho rằng tranh chấp hiện nay), còn bà C thì được chia phần đất cặp nhà của ông Y1 (phần đất này hiện nay là đất rẫy), còn bà T và bà X thì nhận thêm phía sau nhà của mỗi người. Riêng của bà C thì phần nhận thêm là phần đất giáp với nhà ông Y1 (phần đất rẫy hiện nay). Đối với phần đất phía sau nhà của bà C hiện đang tranh chấp, trước đây sau khi thỏa thuận chia xong vào năm 2001, đến khoảng năm 2006 thì bà Y là mẹ của bà có xây đường nước phía sau nhà của bà C để tránh nước thảy sinh hoạt của nhà bà C ra phần đất của bà Y. Khi chia có địa chính xã V nay là Phường 2 tên Triệu P1 xuống đo đạc và có trưởng ban tên Tăng S1 cùng chứng kiến. Ngoài ra, có ông K4 – là thợ hồ trước đây đã xây. Ông K4 hiện nay đang sống tại khóm C, phường B, thị xã V. Ngoài ông K4 ra còn có bà T, X, ông Y1 chứng kiến. Lúc xây có bà C chứng kiến chỉ ranh đất cho hai bên. Sau khi chia đất thì bà Y trồng một số cây từ năm 2001 cho đến nay.
Do đó, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C cho rằng bà Y lấn chiếm các phần đất nêu trên là không có, bà Y không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà C.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Văn K1 trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của vợ ông tên Trần Thị Xái N.
*Vụ án được Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ: Điều 5, Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Điều 278 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng sự năm 2015;
Áp dụng Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C, về việc yêu cầu buộc bị đơn bà Trần Thị Y trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 8,4m² và diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, phần đất tranh chấp có 02 phần và có tứ cận như sau:
- * Phần đất tranh chấp thứ nhất, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa đất của bà Trần Thị Y, có số đo 11,63m + 11,14m + 12,49m;
- Hướng Tây giáp thửa 1191 của bà Trần Thị C, có số đo 11,62m + 23,67m;
- Hướng Nam là giao điểm chiều dài cạnh Hướng Đông phần đất bà Y với chiều dài cạnh Hướng Tây giáp phần đất của bà C.
- Hướng Bắc giáp đường N, có số đo 0,53m.
- Diện tích 8,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ só 8, tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- * Phần đất tranh chấp thứ hai, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 6,65m.
- Hướng Tây giáp đất của bà Trần thị C2, có số đo 5,21m + 0,46m.
- Hướng Nam giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 7,15m.
- Hướng Bắc giáp thửa đất của bà Trần Thị C, có số đo 7,61m.
- Diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
* Ngày 04/9/2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Thị C là ông Trần Việt H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa Bản án số 98/2023/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng để xét xử lại theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Đề nghị không chấp nhận khang cáo của nguyên đơn
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm; đồng thời, phát biểu quan điểm về nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị C vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của bà Clà ông Trần Việt H có mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các ông (bà) Liêu Tùy K, Thái Thị Muỗi C1, Thái Văn K2, Thái Văn K3 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị C là ông Trần Việt H3 lập ngày 01/9/2023 và nộp cho Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thông qua dịnh vụ bưu chính vào ngày 04/9/2023 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn giải tỏa nhà trả lại phần đất vị lấn chiếm, về nguồn gốc đất có diện tích 8,4m² và diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, đối với phần đất tranh chấp này các bên đương sự đều thừa nhận là đất gốc của ông Trần P, bà Lâm Thị Dù H1 là cha mẹ của các chị em bà C, bà Y, bà T và bà X. Do đó, đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh, được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C buộc bị đơn bà Trần Thị Y trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 8,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng: Phần đất này có vị trí giáp ranh giữa căn nhà của bà Trần Thị C với căn nhà của bà Trần Thị Y và giáp với đường N. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1191, tờ bản đồ số 8 của Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Liêu Tùy K và bà Trần Thị C, thì cạnh Hướng Bắc của thửa đất này (giáp lộ Nam Sông H2) có số đo 9,27m. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/9/2021 thì cạnh Hướng Bắc của thửa 1191 giáp lộ Nam Sông H2 (theo hiện trạng đang sử dụng của bà C) có số đo 8,89m và tại vị trí có số đo 8,89m tính từ giáp ranh của ông Trần Y2 kéo sang Hướng Đông giáp với đất của bà Y là có trụ cột bê tông đúc sẵn của bà C đã cặm làm hàng rào lưới B40 và hàng rào lưới B40 này bà C đã xây làm ranh. Đồng thời đối với diện tích tranh chấp 8,4m² không thuộc thửa 1191, tờ bản đồ số 8 mà bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012, trong khi đó diện tích 8,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8 do bà Y đang quản lý, sử dụng. Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2023 đối với bà Trần Thị T và bà Trần Thị X (bà T và bà X là chị em ruột của bà C và bà Y) trình bày: Vào năm 2017, khi bà Y cất nhà lại là cất trên phần đất của nền đất cũ đã được cha mẹ cho bà Y trước đây. Bà Y không có lấn ranh sang đất của bà C. Trước đây, khi bà C cất nhà thì bà C có xây ô quăng phía trên lấn qua phần đất của bà Y, lúc đó bà Y có ý kiến, nhưng bà C nói sau này khi bà Y cất nhà thì bà C sẽ cắt bỏ ô quăng đã lấn qua. Tại biên bản xác minh ngày 27/6/2023 đối với ông Triệu P1, thì ông P1 trình bày: Vào khoảng năm 2005, năm 2006 thì phía bên gia đình bà Y có đặt vấn đề và yêu cầu giải quyết việc bà C đã xây nhà và có đồ ô quăng phía nhà trước lấn qua phần đất của bà Y nhưng do ô quăng nằm ở trên không và không đụng chạm gì về bề mặt đất và hơn nữa đất của ông bà để lại nên ông động viên cho hai bên tạm thời để khỏi phải đập bỏ. Căn nhà của bà Y sau này cất lại là cất đúng trên phần đất của bà Y, không có lấn sang đất của bà C. Việc Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định phần đất này bà Y không lần của bà C là có căn cứ.
[5] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C buộc bị đơn bà Trần Thị Y trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng: Đối với phần đất tranh chấp này có vị trí tọa lạc phía sau căn nhà sau của bà Trần Thị C. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cạnh Hướng Đông có số đo 11.83m + 22,93m =34,76m, đo từ mí đường lộ Nam Sông H2 kéo về hướng N và cạnh hướng Tây có số đo 11,9m + 22,93m = 34,83m, đo từ mí lộ Nam Sông H2 kéo về hướng N. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/9/2021 theo sự chỉ ranh của bà C thì cạnh Hướng Đ có số đo là 11,63m + 11,14m +12,49m + 6,65m = 41,91m và cạnh Hướng T1 có số đo là 11,70m +24,30m +3,97m + 0,46m = 40,43m. Như vậy, cạnh Hướng Đ và Hướng T1 theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/9/2021 theo sự chỉ ranh của bà C có số đo lần lượt dài hơn 02 cạnh Hướng Đ và Hướng T1 đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C vào năm 2012 là 7,15m và 5,6m. Đồng thời diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 226079, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH00490 ngày 02/12/2012 của Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho bà C và ông K tại thửa 1191, tờ bản đồ số 8 có diện tích 319,8m², còn diện tích theo sự chỉ ranh của bà C là 378,7m². Như vậy, diện tích theo sự chỉ ranh của bà C nhiều hơn diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 58,9m². Đồng thời việc cấp giấy chứng nhận nêu trên đúng trình tự thủ tục. Tại Công văn phúc đáp số 02/TLTA-ĐM, ngày 09/8/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 cung cấp như sau: “...Căn cứ số liệu đo đạc hiện trạng thực tế theo sự chỉ ranh của nguyên đơn và bị đơn, Công ty so sánh số liệu trên hai nền bản đồ cũ và mới; xác định phần diện tích 8,4m² thuộc một phần của thửa đất số 306, tờ bản đồ số 08 (nền bản đồ 299 năm 1992-1994)...; xác định phần diện tích 45,4m² thuộc một phần của thửa đất số 306 tờ bản đồ số 08 (nền bản đồ 299 năm 1992-1994)”. Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2023 đối với bà Trần Thị T và bà Trần Thị X (bà T và bà X là chị em ruột của bà C và bà Y) trình bày: “... Đối với phần đất nằm phía san nhà của bà C mà bà C tranh chấp với bà Y đó là đất của cha mẹ đã cho bà Y. Trước đây có địa chính xuống đo đất và có chứng kiến việc bà Y xây gạch để tránh việc bà C thải nước ra phần đất của bà Y nằm phía sau nhà của bà C, lúc đó có bà C ra chứng kiến. Cho nên, việc bà C khởi kiện là không đúng...”. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 27/6/2023 đối với ông Triệu P1 là vào khoảng năm 2006, ông có chứng kiến việc gia đình bà Y xây gạch để tránh việc nước thải của gia đình bà C ra phần đất trống phía sau nhà của bà C. Vì phần đất phía sau nhà của bà C là của bà Y. Khi bà Y xây gạch thì có đầy đủ các chị em của bà C, bà Y, bà T và bà X cùng chứng kiến. Phần đất của bà C là hết phần đất có căn nhà phía sau của bà C là hết quyền sử dụng đất của bà C, do đó gia đình bà Y mới xây gạch để tránh việc bà C thải nước sinh hoạt ra bên ngoài. Việc Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định phần đất này bà Y không lấn của bà C là có căn cứ.
[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, kháng cáo của của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Trần Thị C được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- * Không chấp nhận kháng cáo của của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Thị C là ông Trần Việt H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 98/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và được tuyên lại như sau:
- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Căn cứ: Điều 5, Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Điều 278 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C, về việc yêu cầu buộc bị đơn bà Trần Thị Y trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 8,4m² và diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, phần đất tranh chấp có 02 phần và có tứ cận như sau:
- * Phần đất tranh chấp thứ nhất, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa đất của bà Trần Thị Y, có số đo 11,63m + 11,14m + 12,49m;
- Hướng Tây giáp thửa 1191 của bà Trần Thị C, có số đo 11,62m + 23,67m;
- Hướng Nam là giao điểm chiều dài cạnh Hướng Đông phần đất bà Y với chiều dài cạnh Hướng Tây giáp phần đất của bà C.
- Hướng Bắc giáp đường N, có số đo 0,53m.
- Diện tích 8,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- * Phần đất tranh chấp thứ hai, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 6,65m.
- Hướng Tây giáp đất của bà Trần thị C2, có số đo 5,21m + 0,46m.
- Hướng Nam giáp đất của bà Trần Thị Y, có số đo 7,15m.
- Hướng Bắc giáp thửa đất của bà Trần Thị C, có số đo 7,61m.
- Diện tích 45,4m² thuộc thửa 306, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Nguyên đơn bà Trần Thị C phải chịu số tiền 7.873.500 đồng. Tuy nhiên, số tiền này bà C đã thực hiện xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị C phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Tuy nhiên, bà C có đơn xin miễn nộp tiền án phí, án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi nên bà C được miễn số tiền trên.
- Bị đơn bà Trần Thị Y không phải chịu tiền án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị C được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 234/2023/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất
- Số bản án: 234/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị C-Trần Thị Y
