|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 234/2024/HS-ST Ngày 16 – 8 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Viết Thống
- Bà Châu Thị Kim Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN.
Sinh ngày 21/9/1982, Tại tỉnh Đắk Lắk
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở hiện nay: Số H đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1945 và con bà Ngô Thị É, sinh năm:1954; Bị cáo có chồng là Đặng Ngọc H, sinh năm:1975. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Vũ Thị Băng T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị Ngọc T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
- Bà Ngô Thị Thùy T2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Phúc Liên T3, sinh năm 2006. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Ông Ngô Tôn T4, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, do thấy ở phía trước nhà có nhiều lá cây khô nên Nguyễn Thị Bích L lấy vòi nước ra xịt rửa, quét dọn. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, chị Ngô Thị Ngọc T1 (là hàng xóm của L) đi làm về thì thấy ở đường phía trước nhà mình có nước chảy xuống nên đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau qua lại với L về việc dọn dẹp vệ sinh. Sau đó L đóng cửa để đi tham dự đám cưới người quen. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi L đi đám cưới về thì thấy ở cổng và sân nhà có nhiều phân, nghi ngờ là do chị T1 làm nên L đã hốt số phân chó này tạt vào sân nhà chị T1 và lấy vòi xịt nước dọn rửa sân nhà mình. Trong lúc L đang dọn dẹp, chị T1 đi ra thì thấy trong sân nhà có nhiều phân chó nên đã dọn dẹp và thấy L đang xịt nước dọn rửa ở trước nhà nên đi ra hỏi ai là người tạt phân chó vào sân nhà mình, thì L đã thừa nhận sự việc trên. Từ đó, hai bên đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau qua lại to tiếng; trong khi hai bên đang cãi nhau thì em ruột của chị T1 là Ngô Thị T5 trang cũng đi ra để xem. Lúc này, T3 cầm theo 01 cây chổi (loại chổi xương) đi lại gần và quét nước ngược về phía của L nên L dùng vòi nước đang cầm trên tay xịt về phía chị T3. Do bị xịt nước vào người nên chị T3 ném chiếc chổi trên về phía người L và chạy lại gần nhặt 01 viên gạch bên đường ném về phía L nhưng không trúng. Nhìn thấy chị T3 bị L xịt nước vào người nên chị T1 cũng chạy lại tạt xô nước trên tay mình về phía người Liên. Thời điểm này, ông Ngô Tôn T4, sinh năm 1958 và bà Vũ Thị Băng T, sinh năm 1960, cùng trú tại: 8 N, phường T, thành phố B nghe thấy hai bên cãi nhau to tiếng nên đã đi ra để can ngăn. Ông T4 đi lại gần can ngăn, đẩy hai bên ra và lượm những mảnh gạch vỡ ném vào phía trong, không để hai bên xô xát với nhau tiếp; đồng thời đẩy chị T1 và chị T3 đi về, còn bà
T thì nhặt lấy 01 cây chổi (loại chổi quét nhà) và 01 xô nhựa màu trắng bị rơi trên đường, cầm trên tay mình. Sau khi được ông T4 can ngăn, do bức xúc việc mâu thuẫn với chị T1 nên L đi về nhà mình lấy 01 cây kim loại, hình hộp vuông, kích thước (1x1)cm, dài 01m, đi xuống nhà chị T1 và thách thức chị T1 đánh nhau. Thấy vậy, ông T4 đứng giữa để can ngăn, không để cho hai bên đánh nhau. Tại thời điểm này, bà T sợ L đánh con mình nên cầm theo cây chổi đi đến phía sau lưng L, dùng cán chổi đánh 01 cái trúng vào phần sau đầu của L. Khi L quay lại nhìn thấy bà T đưa chổi lên định đánh cái thứ 2 thì L dùng cây kim loại đang cầm trên tay đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ phải qua trái trúng vào phần mặt bên phải của bà T, làm bà T chảy máu ở miệng và té ngồi xuống đất. Thấy bà T bị té thì L đã bỏ đi về nhà mình. Sau đó, gia đình bà T đã đưa bà T đến Bệnh viện đa khoa vùng T để cấp cứu và có đơn yên cầu khởi tố vụ án hình sự, xử lý hành vi của Nguyễn Thị Bích L theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 195, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của Vũ Thị Băng T như sau:
- + Sẹo mổ ngách lợi hàm dưới vùng cằm, kích thước (3 x 0,1)cm
- + Gãy xương hàm dưới vùng cằm
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thị Băng T tại thời điểm giám định là 10%. Vật tác động: Vật tày, cứng.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Bích L khai: Hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng.
Cáo trạng số 226/CT-VKS TP.BMT ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Liên 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46; điểm a Khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 và Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015: Tại phiên tòa, bị hại bà Vũ Thị Băng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải bồi thường các thiệt hại tổng số tiền 77.951.146 đồng, tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị Bích L chấp nhận bồi thường cho bà T theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại trên, nhận thấy một số yêu cầu chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định của pháp luật về tính thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và xét yêu cầu của bị hại, các tài liệu, hóa đơn chứng từ bị hại cung cấp; xét chi phí bồi dưỡng sức khỏe được xác định là một ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án (mức lương tối thiểu vùng III là 3.860.000 đồng/tháng : 26 ngày = 148.462 đồng/ngày) là: 15 ngày x 148.462 đồng/ngày = 2.226.930 đồng; vì vậy, các khoản thiệt hại được chấp nhận bao gồm các khoản như sau:
Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo hóa đơn, chứng từ là 4.788.843 đồng; Chi phí phục hồi sức khỏe 10.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại là phù hợp; Thu nhập thực tế bị mất của bị hại bà Vũ Thị Băng T trong thời gian điều trị: 15 ngày x 148.461 đồng/ngày = 2.226.930 đồng; Tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho bà Vũ Thị Băng T: 05 lần mức lương cơ sở x 2.340.000 đồng/tháng = 11.700.000 đồng. Thu nhập thực tế bị mất của bà Ngô Thị Ngọc T1 là người chăm sóc bà Vũ Thị Băng T trong thời gian điều trị: 15 ngày x 148.461 đồng/ngày = 2.226.930 đồng. Tổng cộng là số tiền 30.942.703 đồng.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Bích L đã tự nguyện bồi thường cho bà T số tiền 15.000.000 đồng.
Chấp nhận bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải bồi thường cho bà Vũ Thị Băng T số tiền 30.942.703 đồng, được khấu trừ số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Bích L còn phải tiếp tục bồi thường cho bà Vũ Thị Băng T số tiền là 15.942.703 đồng.
Đối với hành vi của Ngô Thị Ngọc T1 và Ngô Thị T5 trang dùng gạch ném bị cáo Nguyễn Thị Bích L; bà Vũ Thị B T dùng cây chổi đánh vào phần đầu bị cáo Nguyễn Thị Bích L nhưng không gây ra thương tích và bị cáo L cũng không có yêu cầu gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự. Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với bà Vũ Thị Băng T, Ngô Thị Ngọc T1 và Ngô Thị Thùy T2, theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, là phù hợp.
Đối với hành vi của ông Ngô Tôn T4 là người tham gia vụ việc với mục đích can ngăn hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo L vì vậy không đề nghị xử lý đối với ông T4, là phù hợp.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
Đối với cây chổi mà bà T đã sử dụng đánh bị cáo L; số gạch, đá, đất, xô đựng nước mà bị cáo L và chị T1, T2 sử dụng để ném, hất nước vào nhau thì Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Đối với 01 cây kim loại, hình hộp vuông, rỗng ruột, kích thước (1x1)cm, dài 01m đã qua sử dụng là hung khí bị cáo L đã sử dụng để đánh bà T đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do mâu thuẫn trong cuộc sống giữa bị cáo và bị hại dẫn đến 13 giờ ngày 22/12/2023, bị hại Vũ Thị Băng T có hành vi dùng cán chổi đánh một cái trúng vào phần sau đầu của bị cáo L, bị cáo L quay lại dùng một cây kim loại, hình hộp vuông, rỗng ruột, kích thước (1x1)cm, dài 1m gây thương tích đối với bị hại bà Vũ Thị Băng T tỉ lệ 10%. Bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích L về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm...”
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của bị hại, đồng thời còn gây mất ổn định trật tự, trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, buộc phải biết sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, giữa bị cáo và bị hại đã có mâu thuẫn lâu ngày, bị hại có hành vi dùng cán chổi đánh vào đầu bị cáo mới dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã phân tích ở trên, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Bị hại bà Vũ Thị Băng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải bồi thường các thiệt hại như sau: Chi phí điều trị 2.270.376 đồng, nẹp vít 1.738.800 đồng, đơn thuốc 604.270 đồng, thanh toán chi phí ra viện 87.700 đồng, tiền công chăm sóc nằm viện 15 ngày (từ ngày 22/12/2023 đến ngày 05/01/2024) của bà Ngô Thị Ngọc T1 là 15 ngày x 350.000 đồng = 5.250.000 đồng, tiền thiệt hại mất khả năng lao động 90 ngày x 300.000 đồng = 27.000.000 đồng, tiền ăn tại bệnh viện, sữa, yến 15 ngày x 400.000 đồng = 6.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng, tiền phục hồi sức khỏe 10.000.000 đồng, tiền phẫu thuật sau này 10.000.000 đồng.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà T, nhận thấy một số yêu cầu chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định của pháp luật về tính thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và xét yêu cầu của bị hại, các tài liệu, hóa đơn chứng từ bị hại cung cấp thì các khoản thiệt hại được chấp nhận bao gồm các khoản như sau:
Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo hóa đơn, chứng từ là 4.788.843 đồng;
Chi phí bồi dưỡng sức khỏe được xác định là một ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án (mức lương tối thiểu vùng III là 3.860.000 đồng/tháng : 26 ngày = 148.462 đồng/ngày) là: 15 ngày x 148.462 đồng/ngày = 2.226.930 đồng.
Chi phí phục hồi sức khỏe 10.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại là phù hợp.
Thu nhập thực tế bị mất của bị hại bà Vũ Thị Băng T trong thời gian điều trị: 15 ngày x 148.461 đồng/ngày = 2.226.930 đồng.
Thu nhập thực tế bị mất của bà Ngô Thị Ngọc T1 là người chăm sóc bà Vũ Thị Băng T trong thời gian điều trị: 15 ngày x 148.461 đồng/ngày = 2.226.930 đồng.
Tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho bà Vũ Thị Băng T được tính là 05 lần mức lương cơ sở x 2.340.000 đồng/tháng = 11.700.000 đồng.
Đối với yêu cầu chi phí phẫu thuật sau này thì khi nào có phát sinh, bà Vũ Thị Băng T có quyền khởi kiện yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Bích L đã tự nguyện bồi thường cho bà T số tiền 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cây kim loại, hình hộp vuông, kích thước (1x1)cm, dài 01m, đã qua sử dụng (rỗng ruột) là hung khí bị cáo L đã sử dụng để gây thương tích bà T nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các nội dung khác:
Đối với hành vi của Ngô Thị Ngọc T1 và Ngô Thị T5 trang dùng gạch ném bị cáo Nguyễn Thị Bích L; bà Vũ Thị B T dùng cây chổi đánh vào phần đầu bị cáo Nguyễn Thị Bích L nhưng không gây ra thương tích và bị cáo L cũng không có yêu cầu gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự. Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với bà Vũ Thị Băng T, Ngô Thị Ngọc T1 và Ngô Thị Thùy T2, theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, là phù hợp.
Đối với hành vi của ông Ngô Tôn T4 là người tham gia vụ việc với mục đích can ngăn hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo L vì vậy không đề nghị xử lý đối với ông T4, là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Bích L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải bồi thường cho bà Vũ Thị Băng T số tiền 30.942.703 đồng, được khấu trừ số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Bích L còn phải tiếp tục bồi thường cho bà Vũ Thị Băng T số tiền là 15.942.703 đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải bồi thường cho bà Ngô Thị Ngọc T1 thu nhập bị mất trong thời gian chăm sóc bà Vũ Thị Băng T là 2.226.930 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Đối với các chi phí cho việc cứu chữa, khám bệnh, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của bà Vũ Thị Băng T phát sinh sau ngày xét xử (ngày 16/8/2024), các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kim loại, hình hộp vuông, kích thước (1x1)cm, dài 01m, đã qua sử dụng (rỗng ruột).
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/7/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 908.482 đồng (Chín trăm lẻ tám ngàn bốn trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 234/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ BÍCH L CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
