Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS-ST

Ngày 14 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung.
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 230/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 4/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1986, bị cáo có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 cho đến nay. Có mặt.
  2. Phan Cẩm N, sinh năm 2000 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: C khu phố B, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Phan Văn T, sinh năm 1979 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1981; có 02 em ruột (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2005); chồng tên Lê Văn Hữu L1, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 09/5/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng quyết định về việc bảo lãnh. Bị cáo hiện đang bị Tòa án áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Võ Thiếu L2, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  • + Văn Đình Thanh S, sinh năm 1992. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân Đ và Phan Cẩm N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, cả hai thuê trọ và sống chung với nhau tại phòng số 01 nhà trọ địa chỉ: Số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/01/2024, Đ đi bộ ra công viên gần nơi ở trọ gặp đối tượng H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để nhờ H1 mua ma túy. Tại đây, Đ đưa cho H1 1.000.000 đồng nhờ H1 mua ma túy loại Heroin thì H1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày có người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến phòng trọ giao cho Đ 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất bột màu trắng, đồng thời cho Đ thêm 01 (một) đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng. Sau khi nhận ma túy, Đ cất giấu túi nylon chứa chất bột màu trắng vào trong hộp kẹo có chữ xylitol cool để trên đầu tủ quần áo trong phòng trọ, đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng Đ lấy cất vào trong túi da để ở gần cửa ra vào nhà vệ sinh. Sau đó Đ đi về phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thăm con.

Đến khoảng 14 giờ ngày 26/01/2024, Đ về lại phòng trọ thì thấy Phan Cẩm N đang ngủ, Đ lấy túi nylon miệng kéo dính chứa chất bột màu trắng ra và lấy một ít bỏ vào 02 (hai) đoạn ống hút nhựa rồi hàn kín hai đầu với ý định đem ra khu vực công viên cho H1 vì H1 mua dùm ma túy cho Đ, đồng thời Đ lấy ra một gói giấy bạc để sử dụng, sau đó Đ cất 02 (hai) đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng vào túi quần.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì có N1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn của N đến phòng trọ của Đ và N chơi, cả ba ngồi nói chuyện một lúc thì Đ lấy xe mô tô đi về A, thành phố T. Sau khi Đ đi ra khỏi phòng trọ thì N1 lấy từ người ra 01 (một) hộp nhựa cứng có nắp đậy chứa ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi N1 đổ ma túy vào bộ dụng cụ nấu lên cùng N sử dụng, sử dụng ma túy xong N1 nói với N số ma túy còn lại trong hộp nhựa, N1 để lại cho N với số tiền 300.000 đồng, nghe vậy N đồng ý và lấy tiền đưa cho N1. Nang hộp nhựa cứng có nắp đậy chứa ma túy đá rồi để ở trước cửa ra vào nhà vệ sinh trong phòng trọ, còn bộ dụng cụ sử dụng ma túy Nang để trên bàn trang điểm của N. Lúc này, Đ về lại phòng trọ thì thấy N và N1 đang ngồi nói chuyện. Đ ngồi chơi nói chuyện khoảng 10 phút thì N1 nói với N và Đ “chút về để lại cho Đ và N 02 cái này nè, chứ mang về sợ quá” nghe vậy N hiểu ý N1 cho ma túy và đồng ý. Sau khi N1 đi về Đ lấy 02 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín hai đầu chứa ma túy đá do N1 cho bỏ vào túi nylon miệng kéo dính cùng với gói giấy bạc chứa ma túy Heroin của Đ bỏ trước đó rồi để lại trên đầu tủ quần áo.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, Đ cầm hai đoạn ống hút chứa ma túy H2 trên tay đi ra công viên để đưa cho H1, khi bước ra trước cửa phòng trọ thì thấy lực lượng Công an vào kiểm tra, Đ ném 02 (hai) đoạn ống hút chứa ma túy vào bên bếp ga trong phòng trọ của Đ và N đang ở, cùng lúc, lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật 02 (hai) đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng ký hiệu M1.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố D, tiến hành khám xét phòng trọ số 01 nhà trọ địa chỉ số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, nơi Đ và N thuê ở. Qua khám xét thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy bạc chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-2A); 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-1); 01 (một) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu màu tím chứa chất màu trắng (ký hiệu M3-2); 01 (một) túi da ghi chữ famous bên trong có chứa 01 (một) hộp nhựa trắng có nắp (ký hiệu M3-1); 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu màu đỏ chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2-2B).

Kết luận giám định số: 1547/PC09, ngày 28/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

  • - 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu tím hàn kín chứa chất màu trắng (ký hiệu M1) gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Xuân Đ là ma túy, có khối lượng/trọng lượng M1=0,3569 gam, loại Heroine.
  • - 01 (một) gói giấy bạc chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-2A) thu giữ của Nguyễn Xuân Đ là ma túy, có khối lượng/trọng lượng M2-2A = 0,2701 gam, loại Heroine.
  • - 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu màu đỏ chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2-2B) Na cho Đ và N gửi đến giám là ma túy, có khối lượng/trọng lượng M2-2B=0,3569 gam, loại Methamphetamine.
  • - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng (ký hiệu M2-1) gửi đến giám định thu giữ của Nguyễn Xuân Đ là ma túy, có khối lượng/trọng lượng M2-1=1,1020 gam, loại Heroine.
  • - 01 (một) hộp nhựa trắng có nắp (ký hiệu M3-1) chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định thu giữ của Phan Cẩm N là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: M3-1=0,4195 gam, loại Methamphetamine
  • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu màu tím chứa chất màu trắng (ký hiệu M3-2) gửi đến giám định thu giữ của bị can Nguyễn Xuân Đ là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: M3-2=0,0955 gam, loại Heroine.

Ngày 26/01/2024, sau khi bắt quả tang đối với Nguyễn Xuân Đ, đem về Công an phường T, thành phố D để lập hồ sơ, thu giữ tang vật, Nguyễn Xuân Đ leo tường rào bỏ trốn.

Ngày 20/3/2024, Nguyễn Xuân Đ và Phan Cẩm N đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội. Ngày 29 tháng 3 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; sau đó ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Xuân Đ, Phan Cẩm N để điều tra về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số 243/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Cẩm N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Áp dụng Điểm i, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ từ 22 (hai mươi hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
  • - Áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Phan Cẩm N từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 03 bì thư được niêm phong ghi số: 547M1/PC09; 1547M2/PC09; 1547M3/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định có M1 = 0,1746 gam; M2-1 = 0,8768 gam; M2-2A=0,1681 gam; M2-2B = 0,1638 gam; M3-1=0,2641 gam; M3-2 = 0,0399 gam là vật chứng vụ án.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 túi da ghi chữ famous; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp; 01 bộ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và chai nhựa là tang vật vụ án xét không còn giá trị.
  • Đối với đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua giùm ma túy cho Đ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
  • Đối với đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho N và cho ma túy N và Đ Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
  • Đối với ma túy loại heroine có tổng khối lượng M = 1,8245 gam, việc Đ mua và cất giấu tại phòng trọ N không biết nên không xử lý đối với N về hành vi tàng trữ số heroine này.
  • Đối với hành vi N khai có sử dụng ma túy với N1 tại phòng trọ của N, xét thấy chỉ có lời khai của N, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch đối tượng N1, ngoài lời khai của N thì không có chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ xử lý Nang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và xử lý vật chứng. Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Ngày 26/01/2024 tại số A Đường C, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Xuân Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng M = 1,8245 gam loại heroine (là của Đ mua nhằm mục đích để sử dụng) và M = 0,3569 gam loại Methamphetamine (của đối tượng tên N1 cho Đ và N1); Phan Cẩm N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng M = 0,4195 gam loại Methamphetamine (Ma túy của N mua của đối tượng tên N1) và ma túy N1 cho N và Đ có khối lượng M = 0,3569 gam loại Methamphetamine, tổng khối lượng ma túy Nang tàng trữ M = 0,7764 gam loại Methamphetamine.

Hành vi của Nguyễn Xuân Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của Phan Cẩm N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 243/CT – VKS - DA ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[4] Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn nên không xem là phạm tội có tổ chức.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết trên được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phan Cẩm N đầu thú và đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người nghiện ma túy.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 03 bì thư được niêm phong ghi số: 547M1/PC09; 1547M2/PC09; 1547M3/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định có M1 = 0,1746 gam; M2-1 = 0,8768 gam; M2-2A=0,1681 gam; M2-2B = 0,1638 gam; M3-1=0,2641 gam; M3-2 = 0,0399 gam, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 túi da ghi chữ famous; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp; 01 bộ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và chai nhựa cần tịch thu tiêu hủy.
  • [9] Đối với đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua giùm ma túy cho Đ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
  • [10] Đối với đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho N và cho ma túy N và Đ Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
  • [11] Đối với ma túy loại heroine có tổng khối lượng M = 1,8245 gam, việc Đ mua và cất giấu tại phòng trọ N không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với N về hành vi tàng trữ số heroine này là phù hợp.
  • [12] Đối với hành vi N khai có sử dụng ma túy với N1 tại phòng trọ của N, xét thấy chỉ có lời khai của N, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch đối tượng N1, ngoài lời khai của N thì không có chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ xử lý Nang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • [13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  • [14] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ1 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Cẩm N, Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng Điểm i, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2024.

    3. Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    4. Xử phạt bị cáo Phan Cẩm N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 09/5/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy 03 bì thư được niêm phong ghi số: 1547M1/PC09; 1547M2/PC09; 1547M3/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định có M1 = 0,1746 gam; M2-1 = 0,8768 gam; M2-2A=0,1681 gam; M2-2B = 0,1638 gam; M3-1=0,2641 gam; M3-2 = 0,0399 gam.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 túi da ghi chữ famous; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp (được niêm phong trong bì thư M3); 01 bộ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và chai nhựa.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  4. Các bị cáo Phan Cẩm N, Nguyễn Xuân Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BĐ (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC09 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - TBTND nơi cư trú của bị cáo (04);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 234/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger