Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2025/DS-ST

Ngày: 25 - 6 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng cố đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trường

Ông Huỳnh Văn Năm

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Lâm Chí Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 148/2025/TLST- DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng cố đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Dương Thùy D - Sinh năm: 1991 (Xin vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: + Bà Trần Thị B - Sinh năm: 1932; Địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị T; Địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn Ú; Địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Là: bị đơn (Vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Ông Phạm Văn P - Sinh năm: 1961; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Xin vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Kim N - Sinh năm: 1965; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Dương Thùy D trình bày:

Ngày 01/5/2019 bà và chồng bà là ông Phạm Hoài N1 có thoả thuận cố phần đất của bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú, phần đất có diện tích 7.655,8m², thuộc thửa số 124, tờ bản đồ số 03, toạ lạc tại ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, cố với giá là 48 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng, thời hạn cố là 36 tháng (có làm giấy tay), sau khi cố có cho bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú thuê lại với giá thoả thuận mỗi năm 4.000.000 đồng. Bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú chỉ trả tiền thuê đất từ năm 2019 đến năm 2022, còn lại 8.000.000 đồng chưa trả cho bà.

Chồng bà là ông Phạm Hoài N1 đã chết, nay bà yêu cầu Toà án giải quyết, tuyên bố Giấy giao kèo cố đất ngày 01/5/2019 giữa bà và bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú là vô hiệu, yêu cầu bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú trả cho bà 4 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng, không yêu cầu xem xét tiền thuê đất còn nợ.

Ông Phạm Văn P và bà Nguyễn Kim N2 thống nhất trình bày:

Ông bà là cha mẹ ruột của Phạm Hoài N1 – sinh năm 1989, con của ông bà đã chết vào năm 2019. Hiện vợ của Phạm Hoài N1 là Dương Thùy D đang khởi kiện đòi vàng cố đất trong vụ án này thì ông bà xác định đó là tài sản riêng của các con, ông bà không có đóng góp gì cũng như không có yêu cầu tiền, vàng gì, ông bà thống nhất giao quyền cho con dâu khởi kiện và định đoạt. Không yêu cầu gì trong vụ án này.

Đối với bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải nhiều lần nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau phát biểu:

Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Dương Thùy D, tuyên bố “Giấy giao kèo về việc cố đất nông nghiệp” ngày 01/5/2019 giữa bà Dương Thùy D và bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú là vô hiệu, buộc bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú trả cho bà D1 Thùy Diệu 48 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng, bà Dương Thùy D có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn. Đồng thời, xử lý án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thùy D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất vô hiệu và buộc bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú trả 48 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng cố đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú có nơi cư trú xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn là bà Dương Thùy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Kim N2 và ông Phạm Văn P có yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

  2. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thùy D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất giữa bà và bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú vô hiệu, yêu cầu bà B, bà T và ông Ú trả lại cho bà 4 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng. Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án: Giấy giao kèo về việc cố đất nông nghiệp ngày 01/5/2019 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Trần Thị B.

    Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2025, ông Lê Thanh T1 xác định: Ông là người ký tên chứng kiến vào Giấy giao kèo về việc cầm cố đất nông nghiệp ngày 01/5/2019. Ông là người trực tiếp chứng kiến việc các bên ký tên xác lập giao kèo cầm cố đất và nhìn thấy tận mắt vợ chồng ông Phạm Hoài N1 và bà Dương Thùy D giao 48 chỉ vàng và 15.000.000 đồng cho bà Trần Thị B và bà B giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1 bà D giữ. Xét thấy, giao dịch cố đất giữa các bên được xác lập là thực tế, tuy nhiên theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai thì việc cầm cố quyền sử dụng đất không được pháp luật thừa nhận, do đó giao dịch cố đất giữa các bên được xác lập tại “Giấy giao kèo về việc cố đất nông nghiệp ngày 01/5/2019” là vô hiệu theo quy định tại các điều 117, 122 và 123 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, hợp đồng cố đất giữa các bên xác lập là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, hợp đồng cho thuê đất được xác lập trên cơ sở hợp đồng cố đất nên cần tuyên bố chấm dứt hợp đồng cho thuê đất giữa đất các bên là phù hợp.

  3. Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do giao dịch cố đất giữa bà D với bà B, bà T và ông Ú vô hiệu, nên căn cứ vào Điều 131 Bộ luật Dân sự buộc các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận nên cần buộc bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà D1 Thuỳ Diệu 48 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng, bà Dương Thùy D phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.
  4. Về trách nhiệm hoàn trả đất thì từ trước đến nay nguyên đơn bà D1 Thuỳ Diệu không có quản lý sử dụng phần đất cố nên không đặt ra xem xét nghĩa vụ hoàn trả đất.
  5. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thùy D, tuyên bố “Giấy giao kèo về việc cố đất nông nghiệp 01/5/2019” giữa bà Dương Thùy D và ông Phạm Hoài N1 với bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú là vô hiệu, buộc bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Út T2 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà D1 Thuỳ Diệu 48 chỉ vàng 24k và số tiền 15.000.000 đồng, bà Dương Thùy D có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn; Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê đất giữa hai bên theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 là phù hợp.
  6. Về án phí: Do bị đơn vắng mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cũng như không có đơn xin miễn án phí nên buộc bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí có giá ngạch trên giá trị phải thanh toán cho nguyên đơn bà D1 Thùy Diệu theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội số tiền là: 25.048.000 đồng, tổng cộng là: 25.348.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Các điều 117, 122, 123, 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D1 Thùy Diệu đối với bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú

    Tuyên bố “Giấy giao kèo về việc cố đất nông nghiệp ngày 01/5/2019” giữa bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú với vợ chồng bà Dương Thùy D là vô hiệu.

    Buộc bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà D1 Thùy Diệu 48 (Bốn mươi tám) chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng.

    Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê đất được xác lập theo hợp đồng cố đất giữa giữa bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú với vợ chồng bà Dương Thùy D.

    Bà Dương Thùy D phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

  2. Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và án phí có giá ngạch là 25.048.000 đồng (Hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi tám nghìn đồng), tổng cộng là: 25.348.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

    Hoàn trả cho bà D1 Thùy Diệu số tiền án phí đã dự nộp 11.167.200 đồng (Mười một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm đồng) tại biên lai thu số 0005328 ngày 13/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựhì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Văn Thời
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Yến Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cố đất

  • Số bản án: 234/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cố đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger