|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2025/DS-PT Ngày: 25 – 6 - 2025 V/v Tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan;
Ông Nguyễn Thành Lập.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2025/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Ánh X, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn:
- Ông Lâm Vũ C, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trương Hồng C1, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Trương Hồng C1, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Do có kháng cáo của: Bà Trương Hồng C1 – là nguyên đơn.
Bà Lý Ánh X, bà Trương Hồng C1 có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/11/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lý Ánh X trình bày:
- Đối với nợ hụi: Vợ chồng bà Trương Hồng C1, ông Lâm Vũ C có tham gia nhiều dây hụi cho bà làm chủ từ khoảng năm 2021. Vào ngày 15/10/2023 thì bà ngừng toàn bộ các dây hụi do nhiều người tham gia hụi không đóng hụi cho bà. Cùng ngày 15/10/2023 bà và bà Cẩm C2 nợ hụi với nhau, bà C1 tự tay viết giấy nợ cho bà giữ, theo đó bà C1 còn nợ hụi tổng số tiền 272.000.000 đồng. Do đây là nợ chung của vợ chồng bà C1 nên nay bà yêu cầu vợ chồng bà C1 trả cho bà số tiền này.
- Đối với nợ vay: Trong năm 2020 bà có cho vợ chồng bà C1 vay tiền nhiều lần (Do là người thân nên đôi bên không lập biên nhận vay tiền). Đến ngày 10/4/2021 thì đôi bên chốt vốn vay là 130.000.000 đồng, đôi bên thoả thuận lãi suất 5%/tháng. Bà C1 trả lãi cho bà bằng cách đối trừ vào tiền hụi bà C1 phải đóng cho bà, bà C1 không trả lãi bằng tiền mặt cho bà nhưng bà đã nhận đầy đủ tiền lãi theo mức lãi thoả thuận từ ngày 10/4/2021 đến ngày 30/12/2022. Ngày 19/11/2022 bà C1 trả vốn cho bà số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 80.000.000 đồng. Đến ngày 01/01/2023 đôi bên chốt nợ vay với nhau, theo đó bà C1 còn nợ vốn số tiền 80.000.000 đồng, đôi bên thoả thuận lãi suất 5%/tháng, bà C1 tự tay viết giấy nợ cho bà giữ. Tuy nhiên, từ sau khi chốt nợ đến nay thì bà C1 không tiếp tục trả lãi cho bà.
Do đây là nợ chung của vợ chồng bà C1 nên nay bà yêu cầu vợ chồng bà C1 trả cho bà vốn vay là 80.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi theo đơn khởi kiện. Bà không đồng ý đối trừ lãi theo yêu cầu của bị đơn bởi việc trả lãi trước đó đã được thực hiện xong trên tinh thần tự nguyện thoả thuận của đôi bên.
Tại phiên toà, bị đơn bà Trương Hồng C1 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà C1 là Luật sư Phạm Huy Đ thống nhất trình bày:
- Đối với nợ hụi: Bà C1 xác định chữ viết trên giấy tính tiền hụi ngày 15/10/2023 là do bà C1 viết ra. Bà C1 thừa nhận còn nợ hụi bà X tổng số tiền 272.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà X số tiền này.
- Đối với nợ vay: Trong năm 2020 bà C1 có vay tiền bà X nhiều lần (Do là người thân nên đôi bên không lập biên nhận vay tiền). Đến ngày 10/4/2021 thì đôi bên chốt vốn vay là 130.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng. Bà C1 đã trả lãi đầy đủ cho bà X theo mức lãi thoả thuận từ ngày 10/4/2021 đến ngày 30/12/2022. Ngày 29/11/2022 bà C1 trả vốn cho bà X số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 80.000.000 đồng nên đến ngày 01/01/2023 đôi bên chốt nợ vay với nhau, theo đó bà C1 còn nợ vốn số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng. Từ ngày 01/01/2023 đến nay bà C1 không tiếp tục trả lãi cho bà X.
Do lãi suất các bên thoả thuận vượt quá mức lãi suất quy định của nhà nước nên nay bị đơn yêu cầu đối trừ lãi vào vốn, cụ thể như sau: Từ ngày 10/4/2021 đến
ngày 30/12/2022 bà C1 đã trả lãi tổng số tiền 130.000.000 đồng (130.000.000 đồng x 5%/tháng x 20 tháng), so với lãi suất nhà nước (130.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 20 tháng = 43.160.000 đồng), thì vượt số tiền 86.840.000 đồng. Bà C1 yêu cầu đối trừ số tiền này vào vốn vay còn lại. Tức bà C1 không phải trả cho bà X vốn vay 80.000.000 đồng. Sau khi đối trừ vào vốn vay, còn thừa số tiền 6.840.000 đồng, bà C1 yêu cầu tiếp tục đối trừ số tiền này vào nợ hụi, theo đó bà C1 chỉ còn nợ hụi bà X số tiền 263.160.000 đồng và đồng ý trả cho bà X số tiền này.
- Bà C1 và ông C hiện vẫn còn chung sống nhưng ông C không biết về các giao dịch giữa bà C1 và bà X nên đây là nợ riêng của bà C1, bà C1 sẽ tự chịu trách nhiệm trả cho bà X.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Ánh X.
Buộc bà Trương Hồng C1 và ông Lâm Vũ C trả cho bà L Ánh Xuân số tiền 352.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08/4/2025 bà Trương Hồng C1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án số 106/2025/DS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà C1 về phần lãi đã đóng cho bà X vượt quá mức lãi theo quy định pháp luật là 86.840.000đ, đồng thời đối trừ phần lãi đóng dư với phần vốn gốc 80.000.000đ, phần còn dư xin đối trừ tiếp vào phần nợ hụi, bà C1 chỉ phải trả cho bà X 263.160.000₫.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà X trình bày: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà C1 trình bày: Yêu cầu tính lãi lại theo quy định pháp luật, trừ lại số lãi đã trả cao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trương Hồng C1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn kháng cáo của bị đơn là bà Trương Hồng C1 nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Trương Hồng C1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Nguyên đơn bà Lý Ánh X và bị đơn bà Trương Hồng C1 thống nhất xác định: Bà X cho bà C1 vay tiền nhiều lần (Cho vay miệng, không lập biên nhận), đến ngày 10/4/2021 đôi bên cộng các khoản vay thì bà C1 nợ bà X tổng số tiền 130.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5%/tháng; bà C1 đã trả lãi cho bà X theo mức lãi 5% từ ngày 10/4/2021 đến ngày 30/12/2022 với tổng số tiền 130.000.000 đồng; ngày 29/11/2022 bà C1 trả vốn cho bà X số tiền 50.000.000 đồng; ngày 01/01/2023 đôi bên chốt nợ vay, bà C1 còn nợ vốn số tiền 80.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5%/tháng; từ ngày 01/01/2023 đến nay bà C1 không trả lãi cho bà X.
[2] Xét thấy việc trả lãi theo mức lãi thoả thuận giữa bà X và bà C1 đã được thực hiện và hoàn thành từ ngày 10/4/2021 đến ngày 30/12/2022. Ngày 01/01/2023 bà C1 và bà X chốt nợ vay với nhau, theo đó bà C1 còn nợ bà X vốn vay số tiền 80.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5%/tháng. Do đôi bên đã chốt nợ vay vào ngày 01/01/2023 nên nợ vay (vốn và lãi) sẽ được tính từ thời điểm chốt nợ. Cấp sơ thẩm xác định khoản tiền lãi bà C1 đã trả cho bà X theo mức lãi thoả thuận từ ngày 10/4/2021 đến ngày 30/12/2022 không được xem xét để đối trừ vào vốn vay, do đã chốt nợ vào ngày 01/01/2023, là có căn cứ. Do bị đơn còn nợ nguyên đơn vốn vay 80.000.000 đồng, đến nay chưa trả nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn là đúng quy định.
[3] Từ những căn cứ và nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Hồng C1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự
- Án phí sơ thẩm:
Bà Trương Hồng C1 và ông Lâm Vũ C phải nộp 17.600.000 đồng.
Bà X không phải nộp.
- Án phí phúc thẩm: Bà Trương Hồng C1 phải nộp 300.000 đồng.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Hồng C1.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Ánh X.
Buộc bà Trương Hồng C1 và ông Lâm Vũ C trả cho bà L Ánh Xuân số tiền 352.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
2. Về án phí dân sự
- Án phí sơ thẩm:
Bà Trương Hồng C1 và ông Lâm Vũ C phải nộp 17.600.000đ (mười bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Bà Trương Hồng C1 phải nộp 300.000đ. Ngày 08/4/2025 bà C1 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đ, theo biên lai số 0005429 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được chuyển thu.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Thị Phương Loan |
Đỗ Cao Khánh |
|
Nguyễn Thành Lập |
Bản án số 234/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 234/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi giữa ông C và bà C
