Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 234/2025/DS-PT

Ngày: 02 - 04 - 2025

“V/v:Đòi quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Đỗ Minh Hoàng.
Các Thẩm phán:Ông Vũ Toàn Giang;
Ông Đàm Văn Thuận.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang - Thư ký TAND Thành phố Hà Nội.

Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội: Bà Trịnh Thu T - Kiểm sát viên.

Ngày 02/04/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 253/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024 về “Đòi quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DSST ngày 22/9/2023 của TAND huyện Ba Vì, Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐ-PT ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/ 2025/QĐ-PT ngày 17/3/2025 của TAND Thành phố Hà Nội đối với các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hải H, sinh năm 1976. Đăng ký HKTT: Số G, ngõ A Chính K, N, T, Hà Nội. Nơi ở: 216 ngõ V, phường V, quận Đ, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện T, Hà Nội. Cùng có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà H là Luật sư Đinh Thị N - Công ty L5. Địa chỉ: Số E đường A, Sunrise C, KĐT T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Ích T1 (tên gọi khác: Nguyễn Đức H1), sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội. Có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Cụ Nguyễn Thị Q (chết năm 1986). Người thừa kế thế vị của cụ Q gồm:
      1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1953;
      2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1960;

      Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền của bà H2, bà B là bà Nguyễn Thị Hải H. Có mặt bà H.

      1. Ông Nguyễn Đức T2, đã chết ngày 13/8/2008 - Người thừa kế chuyển tiếp của ông T2 gồm:
        1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 (vợ ông T2). Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội. Vắng mặt.
        2. Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1981(con đẻ ông T2). Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền của anh L1 là bà Nguyễn Thị Hải H. Có mặt bà H.
        3. Chị Nguyễn Thị Diễm H3, sinh năm 1980 (con đẻ ông T2). Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, Hà Nội. Vắng mặt;
        4. Chị Nguyễn Thị Phương M1, sinh năm 1983 (con đẻ ông T2). Địa chỉ: Căn hộ A - CT D - Tổ hợp thương mại dịch vụ và Căn hộ T - Khu đô thị A, phường L, quận H, Hà Nội . Vắng mặt.
    2. Cụ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1940. Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền của cụ Đ là bà Nguyễn Thị Hải H. Có mặt bà H.
    3. Cụ Nguyễn Thị C, sinh năm 1952. Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện B, Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền của cụ C là cụ Nguyễn Như L2, sinh năm 1945 (Chồng cụ C). Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện B, Hà Nội và bà Nguyễn Thị Hải H. Có mặt cụ L2, bà H.
    4. Cụ Nguyễn Đắc L3, chết ngày 29/10/2012 - Người thừa kế chuyển tiếp của cụ L3 gồm:
      1. Cụ Vũ Thị H4, sinh năm 1951 (Vợ cụ L3);
      2. Bà Nguyễn Thị Hải H, sinh năm 1976 (Con đẻ cụ L3).

      Cùng địa chỉ: Số B ngõ V, quận Đ, Hà Nội.

      1. Bà Nguyễn Thị Hà S, sinh năm 1977 (Con đẻ cụ L3). Địa chỉ: Số A, H, phường T, quận H, Hà Nội.

      Đại diện theo ủy quyền của cụ H4 bà S là bà H. Cùng có mặt.

    5. Ông Nguyễn Xuân Y, sinh năm 1963. Có mặt;
    6. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965. Vắng mặt;
    7. Ông Nguyễn Doãn T3, sinh năm 1974. Có mặt;
    8. Ông Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1959. Có mặt;
    9. Ông Nguyễn Đức T4, sinh năm 1968. Có mặt;
    10. Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1974. Có mặt;
    11. Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1970. Có mặt;
    12. Ông Nguyễn Chí C1, sinh năm 1972. Có mặt;
    13. Ông Lê Đăng K1, sinh năm 1947. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Hà Nội.

  5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hải H là nguyên đơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm:

  1. Nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị Hải H trình bày:
  2. Ông bà nội của bà là cố Lê Thị N1 chết năm 1997 và cố Nguyễn Doãn Đ2 đã chết năm 1970 (đều không để lại di chúc bằng văn bản). Hai cố có các người con đẻ là: 1. Cụ Nguyễn Thị Q đã chết 1986; có 03 người con là: Ông Nguyễn Đức T2 (đã chết có vợ là bà Nguyễn Thị L và 03 con đẻ là Nguyễn Hoàng L1; Nguyễn Thị Phương M1 và Nguyễn Thị Diễm H3); bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị H2. 2 Cụ Nguyễn Thị Đ. 3 Cụ Nguyễn Đắc L3 đã chết năm 2012; Cụ L3 có vợ là cụ Vũ Thị H4 và có 02 người con đẻ là Nguyễn Thị Hải H và Nguyễn Thị Hà S. 4. Cụ Nguyễn Thị C.

    Cố Ngữ để lại di sản là thửa đất số 556, tờ bản đồ số 14 (Theo bản đồ 299) nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 34 (Sau đây viết tắt là thửa đất số 28) theo bản đồ địa chính xã T có diện tích là 447,5m². Các bác, các cô của bà kết hôn về nhà chồng, sau khi cố Ngữ chết, cụ L3 quản lý khối di sản này. Cụ L3 chết năm 2012 thì thửa đất này bị một nhóm người do ông Nguyễn Ích T1 (tên gọi khác Nguyễn Đức H1) đại diện chiếm giữ, xây dựng trái phép khoảng 200m² (Đo thực tế là 217,8m²) đất của gia đình bà. Với tư cách là người thừa kế của cụ L3 làm đơn đề nghị Tòa án buộc ông T1 và nhóm người đang xây dựng trái phép phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép và khôi phục lại hiện trạng ban đầu trả lại bà diện tích đất theo số đo thực tế tại thửa đất số 28.

  3. Bị đơn là ông T1 trình bày:
  4. Ông và các ông: Nguyễn Xuân Y, Nguyễn Văn K, Nguyễn Doãn T3, Nguyễn Thành Đ1, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Văn M2, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Chí C1 là thành viên trong dòng họ Nguyễn Doãn .

    Nguồn gốc diện tích đất 477,5m² thuộc thửa số 28 theo bản đồ địa chính năm 2007 là của dòng họ Nguyễn Doãn . Theo chính sách của Nhà nước thì sau cải cách ruộng đất, các dòng họ đều có trưởng họ ở trên đất. Vì họ có đất nên Nhà nước không cấp đất cho các trưởng họ, thường là các trưởng họ ở trên đất nhà thờ và không phải đóng thuế đất. Thửa đất này là của nhà thờ họ Nguyễn D đã có từ lâu đời, theo bản đồ 299 thì thửa đất này là thửa số 566 diện tích 700m² thuộc tờ bản đồ số 14. Nhà thờ được làm từ lâu, không biết có từ bao giờ, nhưng đến năm 1916 có làm lại. Đến năm 2020 do nhà thờ quá cũ nát, đã xây lại tường, thay cột, thay rui mè và làm lại cửa mới. Giấy tờ đất đai về nguồn gốc nhà thờ thì chỉ có trong sổ mục kê năm 1991 của UBND xã T, sau này có bản đồ 299 và bản đồ đo vẽ lại năm 2007, còn trước đó không có giấy tờ. Các giấy tờ đất này thể hiện theo hiện trạng vì gia đình cố N1 có con trai là Nguyễn Đắc L3 là trưởng họ nên ở đã ở trên mảnh đất này để trông nom nhà thờ cũng như thu hoạch hoa màu trên đất. Trước đây cố Ngữ có 01 nhà nhỏ 03 gian và công trình phụ nằm ở sát bức tường hướng đông của nhà thờ, xây trong diện tích đất 700m² của nhà thờ. Năm 1971 do nước ngập, nhà của cố N1 bị đổ, cố N1 và em chồng gọi là cố Cục đã lên nhà thờ ở nhờ, chồng cố N1 là cố Đ2 đã chết, còn cụ L3 là con cố N1 đi học xa. Sau đó cố Cục chết, còn một mình cố Ngữ ở. Quá trình ở trên đất của nhà thờ thì cố N1 đã bán khoảng 10 thước đất cho ông K1, do sau này ông K1 nói lại chứ họ Nguyễn D cũng không biết diện tích cụ thể và bán khi nào, chỉ biết cố N1 bán từ trước khi dòng họ chia đất cho cố Ngữ. Khi biết cố N1 bán thì họ Nguyễn D có ra giữ và nhổ bỏ hàng cây là ranh giới nhưng 2 bên vẫn mua bán với nhau.

    Diện tích đất còn lại sau khi cố Ngữ bán cho ông K1 là 477,5m² (theo bản đồ 299 đo vẽ năm 2007). Năm 1992, cố Ngữ xin đất để làm nhà riêng, họ Nguyễn D đã bàn bạc chia đất cho cố Ngữ. Cụ L3 là con của cố N1 đã viết biên bản, họ Nguyễn D đã thống nhất để lại một phần đất có chiều dài là 16m, chiều rộng là 14m trong đó có ngôi nhà thờ để thờ phụng tổ tiên, trong biên bản cũng đã ghi rất rõ đất của bên nào thì bên đó được hưởng. Sau khi chia đất thì con cháu cố Ngữ đã làm 03 gian nhà cấp 4 lợp ngói ở phía trước nhà thờ cho cố Ngữ ở, cố Ngữ ở được khoảng vài năm thì chết. Sau khi cố Ngữ chết vài năm, nhà thờ không có người ở, do trẻ con vào trong sân nhà thờ đá bóng vỡ ngói nên nhà thờ đã xây bức tường bao xung quanh nhà thờ. Sau khi cụ L3 chết, thì con cháu cố N1 đã phá bỏ nhà 03 gian và xây 01 miếu thờ và cổng.

    Họ Nguyễn D hiện nay có khoảng 100 đinh (không rõ cụ thể có bao nhiêu thành viên); xác định có hàng nghìn người, mỗi năm họ tổ chức làm giỗ tổ một lần vào ngày 01/2 âm lịch và chạp họ vào ngày 14/12 âm lịch. Vào ngày giỗ họ thì cả họ về đông đủ, còn chạp thì chỉ những người ở gần đi chạp. Dòng họ Nguyễn D có 01 gia phả bằng chữ nho ghi xuất phát dòng họ các đời, ghi xây dựng nhà thờ, ghi đất ruộng của nhà thờ, đã được dịch sang tiếng việt. Dòng họ hiện nay có khoảng 13 đời. Trong gia phả có ghi các đinh, không ghi hết các thành viên. Từ khoảng năm 1960 trở về trước thì có ghi đầy đủ các thành viên, sau này không ghi. Hiện tại còn khoảng 30 đinh ở trong làng, còn nhiều đinh ở các nơi khác nhau. Khi đóng góp làm nhà thờ thì có khoảng 100 đinh đóng góp.

    Theo ông thửa đất có nguồn gốc từ xa xưa là của dòng họ Nguyễn D, cách đây khoảng 300 năm. Họ Nguyễn D và cố N1 đã có sự phân chia đất năm 1992 thì giữ nguyên hiện trạng, đất của bên nào thì bên đó sử dụng, phần đất dòng họ đã cho cố N1; phần còn lại để làm nhà thờ hiện nay là nơi cả dòng họ thờ cúng nên bà H cho rằng thửa đất số 28 tờ bản đồ số 34 diện tích 477,5m² (theo bản đồ năm 2007) là của gia đình bà H là không đúng. Nay bà H yêu cầu buộc dòng họ phải trả lại diện tích đất trên thì ông và các thành viên trong dòng họ Nguyễn D không đồng ý. Việc bà H cho rằng ông và các thành viên họ Nguyễn D xây dựng trái phép là không đúng vì đây là đất của nhà thờ họ Nguyễn D, khi xây dựng đã xin phép UBND xã T.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Các cụ Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị C, Vũ Thị H4; các bà H2, B, Nguyễn Thị Hà S và anh Nguyễn Hoàng L1 cùng ủy quyền cho bà H giải quyết và quyết định mọi vấn đề có tranh chấp trong vụ án.
    2. Bà L, chị Phương M1, chị Diễm H3: được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có quan điểm trình bày.
    3. Các ông Y, K, T3, Đ1, T4, M2, L4, C1.

    Cùng thống nhất và nhất trí toàn bộ các ý kiến như quan điểm trình bày của ông T1. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà bà Nguyễn Thị Hải H.

    1. Ông Lê Đăng K1 trình bày:

    Đất nhà ông liền kề với đất của dòng họ Nguyễn Doãn . Ông đã mua khoảng 8 thước đất của cố N1. Mục đích cố Ngữ bán đất cho ông để lấy tiền làm nhà. Khi cố Ngữ bán đất cho ông thì giữa các thành viên trong dòng họ Nguyễn D và cố N1 đã xảy ra tranh chấp. Sau khi giải quyết tranh chấp đất giữa cố N1 và dòng họ thì ông mua đất của cố Ngữ. Hiện nay phần đất ông mua của cố N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp.

Kết quả xác minh tại UBND xã T về quá trình quản lý, sử dụng thửa đất có tranh chấp như sau:

  • Theo Bản đồ 299: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 566, tờ bản đồ số 14 có diện tích 700m². Theo bản đồ năm 2007 là thửa số 28 tờ bản đồ số 34 diện tích 477,5m². Cố Ngữ và dòng họ Nguyễn D sử dụng chung diện tích đất này. Cố Ngữ kết hôn với cố Đ2 là trưởng họ, sau khi cố Đ2 chết thì cố N1 ở trông coi nhà thờ. Trước bản đồ 299 UBND xã Tản Hồng không có tài liệu nào lưu giữ về thửa đất này. Quá trình cố Ngữ sống trên nhà thờ, phía nhà thờ đã cắt cho cố Ngữ 08 thước đất tương ứng 192m² để cố Ngữ ở riêng nhưng đã bán cho ông K1 là hàng xóm liền kề với đất nhà thờ. Ông K1 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Sau đó cố N1 tiếp tục xin đất xây nhà riêng nên năm 1992 giữa cụ L3 (con cố Ngữ) với đại diện dòng họ đã có biên bản phân chia đất (biên bản do cụ L3 tự viết). Trong tổng diện tích còn lại 477,5m², để lại 10m để làm cổng chung cho hai bên; phần của nhà thờ họ là 220m², phần đất còn lại thuộc quyền quản lý, sử dụng của cố Ngữ.

Toàn bộ diện tích 477,5m² hiện nay hai bên đang sử dụng, có sự phân chia gianh giới bằng tường bao, phần đất nhà thờ sử dụng có nhà thờ riêng, phần đất cố N1 sử dụng có 01 miếu thờ riêng. Diện tích đất này hiện nay giữ nguyên, không có sự biến động, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Tại Biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 01/8/2019:

Phần diện tích đất đang có tranh chấp do các thành viên dòng họ Nguyễn D đang quản lý, sử dụng là 217,8m². Phần diện tích đất còn lại do bà H đang quản lý sử dụng là 230m².

  • Tại biên bản định giá tài sản ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Quyền sử dụng đất do dòng họ Nguyễn D quản lý giá trị thành tiền là 10.000.000 đồng/m² x 217,8m² = 2.187.000.000 đồng. Tài sản gắn liền với phần đất 217,8m² có tranh chấp trị giá 269.589.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bà H: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.
  • Các đương sự khác: Giữ nguyên các ý kiến quan điểm đã trình bày.
  • Kiểm sát viên VKSND huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hải H.

Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DSST ngày 22/9/2023, TAND huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội đã Quyết định.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải H đối với ông Nguyễn Ích T1 và một số thành viên dòng họ Nguyễn D về việc đòi quyền sử dụng diện tích đất 217,8m² đất thuộc thửa số 28, tờ bản đồ số 34 (theo bản đồ năm 2007) tại thôn V, xã T, huyện B, TP Hà Nội.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải H về việc buộc ông Nguyễn Ích T1 và một số thành viên dòng họ Nguyễn D phải tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất nhà thờ Nguyễn D đang quản lý để trả lại hiện trạng ban đầu của thửa đất 28, tờ bản đồ số 34 có diện tích 217,8m².

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm. Bà H là nguyên đơn- Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 99/2023/DSST ngày 22/9/2023 của TAND huyện Ba Vì.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư N bảo vệ quyền lợi ích cho bà H trình bày tranh luận:

Toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp là của các đời trước của cố Đại để làm nhà thờ riêng của gia đình của cố Đ2, không phải nhà thờ của dòng họ Nguyễn Doãn . Kể từ khi cố Đ2 chết (năm 1970) thì cố Ngữ là người quản lý, sử dụng và đã chuyển nhượng cho ông K1 192m² đất. Sổ mục kê của UBND xã T tại thời điểm năm 1991 – 1992 đã xác định chủ sử dụng đất là Lê Thị N1 + Nhà thờ là không đúng. Phần ghi “ + nhà thờ” có có thể do ai đó viết chèn lên. Mặc dù cụ L3 đã viết “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” ngày 03/5/1992 nhưng do cụ L3 hiểu sai nguồn gốc đất vì trong sổ mục kê ghi chủ sủ dụng đất là “Lê Thị N1 + Nhà thờ”. Sau khi biết toàn bộ thửa đất này thuộc quyền của cố Ngữ. Các con của cố N1 là các cụ L3 (khi còn sống) Chì, Đ và con của cụ Q là ông T2 đã có đơn đề nghị UBND xã, Tòa án, Viện kiểm sát Ba Vì xem xét lại nhưng chưa được giải quyết. Xác định việc cụ Lực thỏa thuận với các thành viên trong họ Nguyễn D theo “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” ngày 03/5/1992 là không đúng bởi vì toàn bộ thửa đất là của riêng cụ N1, không phải của dòng họ Nguyễn D và các con của cố N1 không ký nên không có giá trị pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

Đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày tranh luận:

Nhất trí với quan điểm của Luật sư, bổ sung thêm: UBND xã cung cấp sổ mục kê không được cấp có thẩm quyền phê duyệt; có nhiều loại mực và nét chữ khác nhau nên nghi ngờ bị sửa chữa, tẩy xóa. Nộp đơn đề nghị trưng cầu giám định nét chữ, tuổi mực dòng chữ “Lê Thị N1 + Nhà thờ” tại sổ mục kê tại thời điểm năm 1991 – 1992 để xác định có phải do một người viết; có bị viết chèn thêm hay không. Tuy nhiên ông cũng thừa nhận sổ mục kê không phải là căn cứ xác định quyền sử dụng đất.

Bà H (Người kháng cáo) đồng thời là đại diện theo ủy quyền của các cụ Đ, C, H4; bà S và anh L1 trình bày tranh luận:

Nhất trí với quan điểm của Luật sư và ông M, bổ sung thêm: Xuất trình: Đơn kiện đề ngày 01/4/1998 có chữ ký của các cụ L3, C, Đ, ông T2 và bản sao Đơn đề nghị đề ngày 30/12/1997 có chữ ký của cụ C, cụ Đ và ông T2. Tuy nhiên bà cũng thừa nhận không có chứng cứ xác định các đơn này được Cơ quan nào tiếp nhận giải quyết. Xuất trình gia phả dòng họ Nguyễn D đã được dịch sang tiếng Việt có xác nhận của V. Theo bà H: Năm 1917, cụ cố nội của bà - chi trưởng thứ 13 có sửa sang và tự lập nên nhà thờ với lý do tranh cử quan công cung đình với tiêu chí phải có nhà thờ; khi đó, cụ đã tự tạo dựng nhà thờ để đủ tiêu chí tranh cử. Do đó là nhà thờ là của chi họ Nguyễn của bà H. Giữa bà và ông T1 cùng họ N2 nhưng không cùng chi họ với bà nên ông T1 không có quyền chiếm giữ, cản trở quản lý đất của gia đình bà.

Cụ Lộ (Đại diện theo ủy quyền của cụ C), cụ H4, bà S. Nhất trí với toàn bộ quan điểm trình bày của Luật sư, ông M, bà H. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H.

Ông T1 trình bày tranh luận:

Xác định bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà H.

Các ông: Y, T3, Đ1, T4, M2, L4, C1 cùng thống nhất trình bày:

Xác định bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng pháp luật; không kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến với Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng
    • - Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
    • - Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
    • - Việc người đại diện theo ủy quyền của bà H có đề nghị trưng cầu giám định nét chữ, tuổi mực dòng chữ “..+ Nhà thờ” tại sổ mục kê tại thời điểm năm 1991 – 1992. Tuy nhiên: Luật sư, ông M và bà H đều cho rằng sổ mục kê không phải căn cứ xác định chủ sử dụng đất. Mặt khác: Công văn 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 25/4/2007 của Bộ T7 hướng dẫn: “Sổ mục kê đất cũng không được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai.” Do đó yêu cầu trưng cầu giám định, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết và không chấp nhận.

    Các đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành phiên tòa vắng mặt họ.

  2. Về Nội dung:
    1. Những nội dung các đương sự cùng thống nhất, không kháng cáo:

    Cố Lê Thị Ngữ chết ngày 16/02/1997 và cố Nguyễn Doãn Đ2 chết năm 1970 đều không để lại di chúc bằng văn bản. Hai cố có các người con đẻ là:

    1. Cụ Nguyễn Thị Q, đã chết năm1986 (chết trước cụ cố Ngữ); cụ Q có 03 người con đẻ gồm:
      • - Bà Nguyễn Thị B;
      • - Bà Nguyễn Thị H2;
      • - Ông Nguyễn Đức T2, chết ngày 13/8/2008. Ông T2 có vợ ông là bà Nguyễn Thị L và 03 con đẻ là Nguyễn Hoàng L1; Nguyễn Thị Phương M1 và Nguyễn Thị Diễm H3.
    2. Cụ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1940.
    3. Cụ Nguyễn Thị C;
    4. Cụ Nguyễn Đắc L3, chết ngày 29/10/2012. Cụ L3 có vợ là cụ Vũ Thị H4 và 02 người con đẻ là Nguyễn Thị Hải H và Nguyễn Thị Hà S.
      • - Cô C2 là em họ cố Đ2 đã chết từ lâu, không có chồng con.
      • - Khi cố N1 còn sống cụ đã chuyển nhượng cho ông Lê Đăng K1 192m² đất; ông K1 đã được cấp GCNQSDĐ. Nay các bên không tranh chấp và không đề nghị Tòa án xem xét lại giao dịch chuyển nhượng này.
      • - “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” ngày 03/5/1992 được UBND xã T xác nhận ngày 04/5/1992 là do cụ L3 viết biên bản và ký tên.
    1. Xét kháng cáo của bà H. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

    Thửa đất đang tranh chấp theo Bản đồ năm 299 lập năm 1986 có số thửa 566, tờ bản đồ số 14 diện tích 700m². Theo sổ mục kê năm 1991 thửa đất này còn diện tích 500m². Bản đồ năm 2007 số thửa 28 tờ bản đồ số 34 diện tích 477,5m².

    Năm 1992, cụ L3 là con cố N1 đã thỏa thuận với đại diện dòng họ Nguyễn Doãn gồm các ông Nguyễn Thành Đ3, Nguyễn Đức T5, Nguyễn Doãn C3, Nguyễn Minh T6 tiến hành lập “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1”. Với nội dung: “……… Nay phân chia như sau: Để lại 10m để làm cổng chung cho hai bên, phần của của họ là 220m², lấy nhà thờ làm chuẩn... có kích thước chiều T là 16m và chiều Bắc Nam là 14m..... Diện tích này của chung họ quản lý, hàng năm thu hoạch hoa lợi để tu bổ nhà thờ và hương hoa cúng tổ tiên. Đất này là của chung của họ nên sau này giải quyết thế nào là của chung của họ. Phần đất còn lại .... do gia đình bà N1 toàn quyền sử dụng”. Được UBND xã chứng thực với nội dung: “Phân chia gianh giới đất họ Nguyễn Doãn ......là đúng. Phần của H5, H5 có quyền sử dụng vĩnh viễn. Phần của bà N1. Bà N1 có quyền sử dụng vĩnh viễn kể từ ngày 03/5/1992”. Như vậy văn bản này, cụ L3 đã thừa nhận nhà thờ họ trên diện tích đất 220m² là của họ Nguyễn Doãn . Phần còn lại là của cố N1. Các bên đã thực tế quản lý diện tích đất được phân chia, đã xây tường bao ngăn cách, sửa chữa tu bổ nhà thờ họ; thu hoa lợi tại phần đất xác định của họ là do các thành viên trong họ thực hiện. Bà H không có căn cứ xác định đã được Cơ quan có thẩm quyền tuyên hủy hoặc chấm dứt văn bản này. Cấp sơ thẩm xác định “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” được lập thành văn bản, được UBND xã xác nhận có hiệu lực là đúng pháp luật.

    Các tài liệu có trong hồ sơ và cung cấp của UBND xã T có đủ căn cứ xác định. Thửa đất đang tranh chấp, theo Bản đồ năm 299 lập năm 1986, có số thửa là 566, tờ bản đồ số 14 diện tích 700m² đứng tên chủ sử dụng đất là Lê Thị N1 + nhà thờ. Theo sổ mục kê năm 1991, diện tích là 500m²; Chủ sử dụng đất là Lê Thị N1 + nhà thờ. Theo bản đồ năm 2007 vì thửa đất chỉ có nhà thờ họ Nguyễn D, cụ N1 đã chết, không còn ai sinh sống trên đất trên đất nên ghi chủ sử dụng là Nhà thờ họ theo thực tế; không có căn cứ xác định diện tích này chỉ có chủ sử dụng là Nhà thờ họ, không có căn cứ xác định thửa đất đang tranh chấp của riêng cố Ngữ. Thực tế bà H đã thừa nhận tại phiên tòa “để đủ tiêu chí tranh cử cụ trưởng chi họ đời thứ 13 đã lập nhà thờ họ chỉ họ”. Có đủ căn cứ xác định trên diện tích đất mà bà H khởi kiện đòi lại có “nhà thờ”. Bản gia phả do bà H và họ ông T1 xuất trình không có nội dung nào thể hiện diện tích đất này là của riêng cố Ngữ. Ngày 03/5/1992, cụ L3 đã đại diện gia đình cố N1 tự viết “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” xác định trong diện tích đất đang tranh chấp có “nhà thờ họ” đồng thời thỏa thuận phân chia gianh giới sử dụng đất; giành lối đi chung, xây tường bao phân chia gianh giới cụ thể. Họ Nguyễn D đã được quản lý phần đất được phân chia với diện tích đo thực tế hiện nay là 217,8m² đất; phần diện tích đất còn lại của cố Ngữ theo số đo thực tế hiện nay là 230m². Bà H không xuất trình được bất kỳ tài liệu chứng cứ chứng minh về việc khi còn sống cố N1 đã phản đối “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” ngày 03/5/1992; không xuất trình được bất kỳ tài liệu chứng cứ chứng minh về việc toàn bộ diện tích 447,8 m² là của cố Ngữ. Đối chiếu với khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật có hiệu lực tại thời điểm xảy ra tranh chấp) quy định ... Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao. Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản”; khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là trường hợp....c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự.”

    Mặt khác: Khi còn sống cố N1 đã chuyển nhượng cho ông K1 192m² nay không có tranh chấp về việc cố N1 định đoạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bà H xuất trình: Đơn kiện đề ngày 01/4/1998 có chữ ký của các cụ L3, C, Đ, ông T2 và bản sao Đơn đề nghị đề ngày 30/12/1997 có chữ ký của cụ C, cụ Đ và ông T2. Tuy nhiên bà cũng thừa nhận không có chứng cứ xác định các đơn này được Cơ quan nào tiếp nhận giải quyết. Như vậy không có căn cứ xác định các cụ L3 (khi còn sống), C, Đ và ông T2 (khi còn sống) phản đối khiếu nại hoặc đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tuyên hủy, chấm dứt “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1” ngày 03/5/1992. Thậm chí sau khi bản án sơ thẩm tuyên, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cố Ngữ gồm: Cụ Đ, cụ C; những người thừa kế thế vị của cụ Q và những người thừa kế khác của cụ L3 (ngoài bà H) không kháng cáo. Như vậy đủ căn cứ xác định những người thừa kế của cố N1 đã tôn trọng và chấp nhận việc định đoạt của cố Ngữ, của cụ L3 khi còn sống.

    Do đó cấp sơ thẩm xác định. Diện tích đất 217,8m² hiện ông T1 và một số thành viên họ Nguyễn D đang quản đã được phân chia theo “Biên bản phân chia gianh giới đất giữa họ Nguyễn D và gia đình bà N1”; các thành viên họ Nguyễn D đã xây tường bao sửa chữa, xây dựng nhà thờ họ, thu hoạch hoa lợi trên đất là thuộc quyền sử dụng của họ Nguyễn Doãn . Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị buộc ông T1 và một số thành viên họ Nguyễn D phải tháo dỡ các tài sản xây dựng trên tích đất 217,8m², khôi phục lại tình trạng ban đầu trả lại 217,8m² đất là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Về án phí:
    • - Giữ nguyên quyết định về án phí dân sự sơ thẩm tại bản án sơ thẩm.
    • - Do kháng cáo của bà H không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được đối trừ với tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

    Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Các Điều 147,148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 158,160,163,164,166,211 Bộ luật dân sự 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hải H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DSST ngày 22/9/2023 của TAND huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. Cụ thể

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hải H đối với ông Nguyễn Ích T1 và một số thành viên dòng họ Nguyễn D về việc đòi quyền sử dụng diện tích đất 217,8m² thuộc thửa số 28, tờ bản đồ số 34 (theo bản đồ năm 2007) tại thôn V, xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hải H về việc buộc ông Nguyễn Ích T1 và một số thành viên dòng họ Nguyễn D phải tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất nhà thờ Nguyễn D đang quản lý để trả lại hiện trạng ban đầu của thửa đất 28, tờ bản đồ số 34 có diện tích 217,8m².
  3. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị Hải H phải chịu 81.132.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ 2.500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/00565 ngày 18/01/2021 và 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0013797 ngày 01/11/2023. Bà Nguyễn Thị Hải H còn phải nộp tiếp 78.632.000 (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm ba mươi hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai phúc thẩm. Có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND huyện Ba Vì;
  • - THADS huyện Ba Vì ;
  • - Lưu HS/ VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 234/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hải H Bị đơn: Nguyễn Ích T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger