Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HSST

Ngày 21/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Việt – Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Cổ Nhuế 2A;

2. Bà Hồ Thị Việt Hòa.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Quân, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2024/TLST-HS, ngày 09/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2024/HSST-QĐ ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh L; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 02 năm 2007 tại Thái Bình; Nơi thường trú: Thôn H, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện H; Họ và tên cha: Phạm Văn T, sinh năm: 1976; Nghề nghiệp: Thợ xây tự do; Họ và tên mẹ: Lê Thị H, sinh năm: 1983; Nghề nghiệp: Thợ xây tự do; D chỉ bản số: 147, do Công an quận B lập ngày 08/03/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 29/02/2024, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ ngày 08/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú"; Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh L: Bà Lê Thị H; sinh năm 1983; Nơi thường trú: Thôn H, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; Là mẹ đẻ của bị cáo; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh L: Luật sư Đỗ Xuân Đ thuộc Công ty L3 (Thẻ Luật sư số 10947/LS do L4 cấp ngày 25/01/2018) - Đoàn Luật sư thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

2

Bị hại: Anh Phạm Anh V, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang; Chỗ ở: Số H, ngõ E V, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/2/2024, bị cáo Phạm Minh L và bị can Phạm Thái A cùng đi bộ đến quán I tại địa chỉ G Cầu D thuộc phường P, quận B, thành phố Hà Nội để chơi game và ngủ qua đêm tại quán.

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 25/02/2024, bị can A chơi hết tiền trong tài khoản nên tắt máy tính đi ra quán trà đá đổi diện quán Internet để chờ bị cáo L. Khoảng 15 phút sau bị cáo L đi ra ngoài, đến khu vực để xe của quán thì thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen mang BKS: 23H1-24744 không khóa cổ, không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại. Bị cáo L dắt chiếc xe máy trên ra ngoài, qua cửa quán khoảng 2 – 3 mét, thấy bị can A đang ngồi ở quán trà đá, liền vẫy tay gọi bị can A. Biết bị cáo L lấy trộm xe máy nhưng bị can A vẫn cùng bị cáo L thay nhau đẩy chiếc xe máy đến cửa hàng sửa xe máy tại số A N, phường M, quận B của anh Lê Văn L1. Bị cáo L nói là bị mất chìa khóa xe máy và nhờ anh L1 thay ổ khóa. Bị cáo L góp 100.000 đồng, bị can A góp 180.000 đồng để trả tiền thay ổ khóa xe. Cả hai thống nhất dùng chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại chung. Ngày 27/02/2024, cả hai điều khiển xe về Thái Bình. Trên đường đi, cả hai bàn bạc rồi tháo biển kiểm soát của xe máy, bỏ ở khu vực ven đường. Bị cáo L cất giữ xe máy tại nhà mình ở thôn H, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Sau khi phát hiện bị mất xe máy, anh Phạm Anh V đã đến Công an phường P trình báo. Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên tại nhà bị cáo L với đặc điểm chi tiết: Xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen số khung: RLHJA3672NY00993, số máy: JA36E1111146, không mang biển kiểm soát.

Kết luận định giá tài sản số 141 ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen số khung: RLHJA3672NY009993, số máy: JA36E1111146, không có biển kiểm soát; đã qua sử dụng trị giá 12.000.000 đồng.

Anh Lê Văn L1 khi thay ổ khóa xe cho các bị cáo không biết là tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen số khung: RLHJA3672NY009993, số máy: JA36E1111146, không có biển kiểm soát đăng ký xe chính chủ mang tên Phạm Anh V, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chúng. Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều

3

tra đã trao trả chiếc xe máy nêu trên cho anh V. Anh Phạm Anh V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã khởi tố bị can đối với Phạm Thái A theo Quyết định khởi tố bị can số 95 ngày 13/3/2024. Ngày 10/6/2024, bà Lê Thị L2, mẹ đẻ bị can A nộp sổ khám bệnh và Bản tóm tắt bệnh án điều trị nội trú số 306/KHTH-BVTT ngày 10/6/2024 của Bệnh viện T1 thuộc Sở Y chẩn đoán bị can A bị bệnh tâm thần và bị rối loạn phân liệt cảm xúc và kê đơn thuốc cho bị can A. Ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần số 4360/QĐ-ĐTTH để giám định tâm thần với bị can A. Đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa có kết quả giám định tâm thần đối với bị can A nên ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định tạm đình chỉ và tách vụ án đối với hành vi của bị can A để giải quyết sau.

Tại Cáo trạng số 221/CT-VKSBTL ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Phạm Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án; Giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

* Người bào chữa cho bị cáo L: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng với bị cáo. Bị cáo phạm tội ở độ tuổi vị thành niên, nhận thức pháp luật và kiến thức xã hội còn chưa đầy đủ, chưa được sự quan tâm, dạy dỗ chu đáo của gia đình, đến nay bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm, có thái độ ăn năn, hối lỗi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị nhưng cần kéo dài thời gia thử thách hơn để có tính chất răn đe, giáo dục bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

4

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị can A, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 25/02/2024, tại số G đường C thuộc phường P, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Minh L đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen mang BKS: 23H1-24744, số khung: RLHJA3672NY00993, số máy: JA36E1111146 trị giá 12.000.000 đồng của anh Phạm Anh V. Tài sản đã được thu hồi, trả cho anh V. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản“. Tội phạm và hình phạt áp dụng với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ông nội của bị cáo được thưởng Huân chương chiến công hạng Nhì vì đã có thành tích trong chiến đấu tại Lào (Quyết định số 432/QĐ-CTN ngày 22/3/2018 của Chủ tịch nước) - là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt:

5.1. Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội ở độ tuổi vị thành niên (Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo ở độ tuổi 17 tuổi 20 ngày), khả năng nhận thức của bị cáo về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội còn hạn chế. Một phần nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội là chưa được sự quản lý và dạy dỗ đầy đủ của gia đình. Việc áp dụng hình phạt với bị cáo ngoài mục đích trừng phạt, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng Điều 36, 91 của Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

5.2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang là học sinh, ở tuổi vị thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là khấu trừ thu nhập hoặc phạt tiền đối với bị cáo.

5

[5]. Về các vấn đề khác

5.1. Về dân sự: Bị hại là anh V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5.2. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Điều luật áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh L 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo L đã bị tạm giữ 08 ngày (Từ ngày 29/02/2024 đến ngày 08/3/2024) nên được trừ 24 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 11 (Mười một) tháng 06 (Sáu) ngày kể từ ngày Cơ quan Thi hành án huyện H, tỉnh Thái Bình nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú trong thời hạn cải tạo không giam giữ thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

4. Các vấn đề khác:

4.1. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HSST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 234/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 25/02/2024, tại số 1đường C thuộc phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm ML đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen mang BKS: 23H1- 24744, số khung: RLHJA3672NY00993, số máy: JA36E1111146 trị giá 12.000.000 đồng của anh PhạmAV.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger