Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

 

Bản án số: 234/2024/HSST

Ngày: 05 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Kiều Lương

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Phan Thị Ngọc Hiền

Ông Nguyễn Thành Nam

Ông Lê Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 245/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2024/QĐXX-ST ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quỳnh N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1995, tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi đăng ký thường trú: E77, Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 và con bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1968. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình chưa có vợ, con

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú ngày 18 tháng 8 năm 2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 320/LTG-CSHS-Đ4 ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Có Luật sư Trần Hữu N1, thuộc Văn phòng L5; Đoàn luật sư tỉnh Đ

Địa chỉ: I, H, Khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị hại: Công ty T3.

Địa chỉ trụ sở: Tầng G, 8 và 10, Tòa nhà phụ nữ, số B N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức N2 – Chuyên viên an ninh Công ty. (Văn bản ủy quyền ngày 21/02/2023).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trần A P, sinh năm 1995, thường trú tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  2. Anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1981, thường trú tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  3. Chị Bùi Thị Lệ N3, sinh năm 1969, thường trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  4. Chị Lê Thị T, sinh năm 1975, thường trú tại tổ A, khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  5. Chị Thị D, sinh năm 1996, thường trú tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  6. Chị Phòng Thị Thanh C, sinh năm 1989, thường trú tại tổ C, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  7. Chị Trần Kim L1, sinh năm 1967, thường trú tại tổ A, khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  8. Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1976, thường trú tại tổ G, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  9. Anh Phạm Nguyễn Trường G, sinh năm 1992, thường trú tại ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  10. Chị ương"Chương N, sinh năm 1986 và anh Chương Sám M, sinh năm 1989 thường trú tại số A, tổ F, khu phố S, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  11. Chị Cao Thị Thanh N4, sinh năm 1987, thường trú tại ấp A G, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  12. Chị Nguyễn Thị K1, sinh năm 1994, thường trú tại tổ A, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  13. Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1996, thường trú tại ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  14. Chị Lê Thị Hoài N5, sinh năm 1990, thường trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  15. Anh Phan Văn Duy K2, sinh năm 1981, thường trú tại tổ D, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  16. Anh Thái Văn V, sinh năm 1983, địa chỉ: Số G, Hồ X, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  17. Anh Vòng A L2, sinh năm 1966, thường trú tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  18. Chị Lưu Thị T2, sinh năm 1974, địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  19. Anh Nguyễn Ái Q1, sinh năm 1981, thường trú tại Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  20. Chị Nguyễn Thị Bích V1, sinh năm 1994, thường trú tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  21. Anh Mai Đức H1, sinh năm 1977, thường trú tại tổ G, khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  22. Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, thường trú tại tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo; Luật sư bào chữa cho bị cáo, chị T, chị K1, anh Duy K2 có mặt. Đại diện bị hại có đơn xin vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 07/01/2020, Nguyễn Quỳnh N vào làm nhân viên hỗ trợ kinh doanh của Công ty T3 (gọi là Công ty T3), địa chỉ tại tầng G, số B, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 15 tháng 10 năm 2022 thì nghỉ việc. Trong thời gian làm việc, N đã lưu số điện thoại của những khách hàng đã vay vốn. Sau đó, N đưa ra thông tin gian dối vay tiền giảm lãi suất, hỗ trợ tiền bảo hiểm khoản vay, mua xe trả góp hoặc hỗ trợ vay thêm. Khi khách hàng đồng ý vay, N làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 và mở tài khoản ngân hàng online cho khách hàng rồi sử dụng tài khoản của khách hàng. Khi Công ty T3 đồng ý giải ngân chuyển tiền đến tài khoản đã đăng ký thì N truy cập vào tài khoản chuyển số tiền của khách hàng đến tài khoản số 0871004257889 của Nguyễn Quỳnh N mở tại Ngân hàng V5 hoặc tài khoản số 0329865827 của Nguyễn Quỳnh N tại Ngân hàng M2 để chiếm đoạt tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

  1. Ngày 28/11/2022, Nguyễn Quỳnh N liên hệ nói với chị Trần A P, sinh năm 1995, thường trú tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai sẽ giúp chị P giảm lãi suất 02 hợp đồng vay của chị P. Sau đó, N làm hợp đồng vay mang tên chị P với Công ty T3 vay qua ứng dụng số tiền 80.000.000 đồng và mở tài khoản số 0372438254 tại Ngân hàng M2 mang tên Trần A P. Sau khi hoàn tất thủ tục vay tiền trong ứng dụng, N sử dụng tài khoản trên của chị P. Khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản, N truy cập tài khoản tại Ngân hàng M2 mang tên Trần A P chuyển số tiền trên vào tài khoản Ngân hàng V5 của N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng.
  2. Ngày 09/12/2022, anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1981, thường trú tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhờ N làm hợp đồng vay số tiền 50.000.000 đồng. N làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 53.000.000 đồng và mở tài khoản số 19039561187015 tại Ngân hàng T4 mang tên Vũ Ngọc Q nhưng N nói hồ sơ vay của anh Q bị lỗi không vay được rồi sử dụng tài khoản của anh Q. Khi Công ty T3 giải ngân và chuyển tiền vào tài khoản trên của anh Q, N truy cập vào tài khoản này chuyển số tiền trên vào tài khoản của N mở tại Ngân hàng V5 và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 53.000.000 đồng.
  3. Ngày 13/12/2022, chị Bùi Thị Lệ N3, sinh năm 1969, thường trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nhờ N làm hợp đồng vay số tiền 90.000.000 đồng. N làm hợp đồng vay qua ứng dụng và mở tài khoản số 0784328514 tại Ngân hàng M2 mang tên Bùi Thị Lệ N3. Khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền trên vào tài khoản của chị N3. Sau đó, N truy cập vào tài khoản ngân hàng của chị N3 chuyển số tiền 90.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 90.000.000 đồng.
  4. Ngày 22/12/2022, chị Lê Thị T, sinh năm 1975, thường trú tại khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai gặp và nhờ N vay số tiền 60.000.000 đồng. N làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 65.000.000 đồng và mở tài khoản 0784697103 tại Ngân hàng M2 mang tên Lê Thị T. Tuy nhiên, N nói với chị T hồ sơ vay bị lỗi không vay được và sử dụng tài khoản của chị T. Khi Công ty T3 giải ngân và chuyển tiền trên vào tài khoản của chị T thì N truy cập vào tài khoản tại Ngân hàng của chị T rồi chuyển số tiền trên vào tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 65.000.000 đồng.
  5. Khoảng tháng 01/2023, N điện thoại cho chị Thị D, sinh năm 1996, thường trú tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nói dối với chị D là được giảm 01 tháng tiền trả góp mua điện thoại số tiền 792.000 đồng (do chị D còn nợ 01 tháng tiền trả góp mua điện thoại cho Công ty T3). Tin lời N nên chị D đồng ý cho N chụp ảnh căn cước công dân và ảnh chân dung rồi N tự làm hợp đồng vay qua ứng dụng Công ty Home Credit với số tiền 60.000.000 đồng và mở tài khoản số 19039770327010 mang tên Thị D tại Ngân hàng T4. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền trên vào tài khoản của chị D. Sau đó bị N truy cập vào tài khoản ngân hàng của Thị D chuyển số tiền 60.000.000 đồng đến tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 60.000.000 đồng.
  6. Ngày 05/01/2023, chị Phòng Thị Thanh C, sinh năm 1989, thường trú tại tổ C, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai lại gặp N làm hợp đồng vay Công ty T3 số tiền 10.000.000 đồng nhưng N lại làm hợp đồng vay qua ứng dụng của Công ty T3 cho chị C với số tiền 32.000.000 đồng rồi mở tài khoản số 0373072055 mang tên Phòng Thị Thanh C tại Ngân hàng M2. Sau khi làm xong thủ tục vay vốn trên ứng dụng Nhân nói dối với chị C hồ sơ vay bị lỗi không vay được. Khi Công ty T3 giải ngân và chuyển số tiền 32.0000.000 đồng vào tài khoản của chị C thì N truy cập tài khoản ngân hàng của chị C chuyển số tiền trên vào tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 32.000.000 đồng.
  7. Ngày 06/01/2023, N gặp chị Trần Kim L1, sinh năm 1967, thường trú tại tổ A, khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nói dối chị L1 được giảm tiền bảo hiểm cho khoản vay trước đây giữa chị L1 với Công ty T3. Chị L1 tin tưởng đưa điện thoại, căn cước công dân cho N và đồng ý cho N chụp ảnh chân dung. Sau đó, N đã lợi dụng lấy thông tin của chị L1 tự làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 50.000.000 đồng và tự mở tài khoản số 10787794741 tại Ngân hàng V6 mang tên Trần Kim L1 nhưng N không nói cho chị L1 biết. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản của chị L1 thì bị N truy cập vào tài khoản của chị L1 chuyển số tiền trên vào tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 50.000.000 đồng.
  8. Ngày 07/01/2023, anh Hoàng Văn K, sinh năm 1976, thường trú tại tổ G, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai gặp N nhờ làm hợp đồng vay số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, N đã lợi dụng làm hồ sơ cho anh K vay số tiền 70.000.000 đồng và chiếm sử dụng tài khoản của anh K. Sau khi Công ty T3 giải ngân và chuyển số tiền 70.000.000 đồng vào tài khoản của anh K thì N truy cập vào tài khoản của anh K chuyển số tiền 60.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Quỳnh N, còn lại số tiền 10.000.000 đồng N vẫn để trong tài khoản của anh K và N đã chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 60.000.000 đồng.
  9. Ngày 09/01/2023, anh Phạm Nguyễn Trường G, sinh năm 1992, thường trú tại ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai gặp N nhờ làm hợp đồng vay số tiền 30.000.000 đồng. N đã lợi dụng làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng và sử dụng tài khoản của anh G. Sau khi làm xong, N nói hồ sơ không đủ điều kiện làm hợp đồng nên không vay được. Khi Công ty T3 giải ngân và chuyển tiền vào tài khoản, N truy cập vào tài khoản số 0352649849 tại Ngân hàng M2 mang tên Phạm Nguyễn Trường G chuyển số tiền 40.000.000 đồng đến tài khoản mở tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng.
  10. Ngày 13/01/2023, N gặp chị ương"Chương Nam L3, sinh năm 1986, thường trú tại tổ A, khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nói dối với chị L3 Công ty T3 có chương trình giảm lãi suất. Do chị Chương Sám M(em gái chị L3), sinh năm 1989, cùng thường trú tại tổ A, khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai có tên trên hợp đồng nên chị L3 nhờ N làm hồ sơ vay đứng tên chị M1 số tiền 50.000.000 đồng để được giảm lãi suất nhưng N đã lợi dụng làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng, mở tài khoản số 0969923602 tại Ngân hàng M2 mang tên Chương S1 M và sử dụng tài khoản của chị M. Sau khi Công ty T3 giải ngân và chuyển số tiền 80.000.000 đồng vào tài khoản của chị M, N truy cập vào tài khoản của chị M chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản mở tại Ngân hàng V5 và số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng M2 đều mang tên Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 tổng số tiền 80.000.000 đồng.
  11. Ngày 13/01/2023, N liên hệ với chị Cao Thị Thanh N4, sinh năm 1987, thường trú tại ấp A G, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nói với chị N4 là Công ty T3 có chương trình sẽ hỗ trợ giảm lãi suất cho khách hàng và chị N4 được giảm bớt 01 tháng đóng tiền lãi của hợp đồng vay trước với Công ty nên chị N4 đã tin tưởng đồng ý gặp N cung cấp điện thoại và thông tin cá nhân cho N. Lúc này, N đã lợi dụng làm hồ sơ vay số tiền 80.000.000 đồng và mở tài khoản số 0778558981 tại Ngân hàng M2 mang tên Cao Thị Thanh N4 và sử dụng tài khoản của chị N4. Khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của chị N4 thì N truy cập vào tài khoản này chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng V5 và số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng M2 đều mang tên Nguyễn Quỳnh N. Sau đó, N chuyển lại số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản của N tại Ngân hàng V5 đến tài khoản cho chị N4 và N đã chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng.
  12. Vào ngày 15/01/2023, N đến nhà chị Nguyễn Thị K1, sinh năm 1994, thường trú tại tổ A, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai gặp nói Công ty T3 đang có chương trình lì xì số tiền 500.000 đồng cho khách hàng đóng tiền đúng hạn nên yêu cầu chị K1 cung cấp căn cước công dân, chụp hình căn cước công dân để xác thực nhận tiền lì. Do trước đây vợ chồng chị K1 đã từng nhờ N làm thủ tục vay tiền tại Công ty T3 và đã thanh toán xong đúng hạn khoản tiền vay nên chị K1 tin tưởng cung cấp giấy tờ và thông tin cá nhân cho N. Sau đó, N làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng và đăng ký mở tài khoản số 19039716274017 tại Ngân hàng T4 mang tên Nguyễn Thị Kiều . Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của chị K1 và bị N truy cập truy cập vào tài khoản của chị K1 và chuyển số tiền 70.000.000 đồng đến tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng.
  13. Ngày 18/01/2023, chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1996, thường trú tại ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai liên hệ hẹn gặp và nhờ N làm hợp đồng vay số tiền 25.000.000 đồng với Công ty T3. Sau đó, cả hai hẹn gặp nhau tại quán C2 trên đường H, thành phố L. Tại đây, N đã nói chị T1 đưa điện thoại, căn cước công dân cho N để làm thủ tục vay tiền, N đã làm hợp đồng vay qua ứng dụng với Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng và mở tài khoản số 0385632593 tại Ngân hàng M2 mang tên Nguyễn Thị Kim T1. Sau khi Công ty T3 giải ngân và chuyển tiền vào tài khoản của chị T1 thì bị N truy cập chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản của chị T1 vào tài khoản mở tại Ngân hàng V5 và số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng M2 đều mang tên Nguyễn Quỳnh N. Sau đó, N dùng tài khoản tại Ngân hàng V5 của N chuyển số tiền 25.000.000 đồng đến tài khoản số 1026526366 tại Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị Kim T1 và N nói đã xong để chị T1 không phát hiện được việc làm của N và N chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 45.000.000 đồng.
  14. Ngày 18/01/2023, N liên lạc với chị Lê Thị Hoài N5, sinh năm 1990, thường trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai và đưa ra thông tin Công ty T3 có chương trình hỗ trợ giảm lãi suất cho hợp đồng vay trước đó giữa chị N5 và Công ty, chị N5 đồng ý hẹn gặp N tại nhà riêng tại tổ A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, N đã lợi dụng mượn điện thoại, căn cước công dân của chị N5 làm hồ sơ vay số tiền 90.000.000 đồng và mở tài khoản số 0987505242 tại Ngân hàng M2 mang tên Lê Thị Hoài N5 rồi sử dụng tài khoản. Sau đó, Công ty T3 đã giải ngân và chuyển tiền vào tài khoản của chị N5 thì N chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng V5 và số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng M2 đều mang tên Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 90.000.000 đồng.
  15. Ngày 30/01/2023, N điện thoại cho anh Phan Văn Duy K2, sinh năm 1981, thường trú tại tổ D, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và nói Công ty T3 có chế độ ưu đãi giảm số tiền 700.000 đồng cho tháng 02 năm 2023, yêu cầu anh K2 cung cấp căn cước công dân và mượn điện thoại để làm thủ tục giảm tiền lãi suất, anh K2 đồng ý hẹn gặp N ở quán cà phê trên đường H, thành phố L. Tại đây, anh K2 đã đưa điện thoại, căn cước công dân cho N và N đã lợi dụng làm hồ sơ vay qua ứng dụng mang tên Phan Văn Duy K2 số tiền 40.000.000 đồng, đồng thời mở tài khoản số 0396746552 tại Ngân hàng M2 mang tên Phan Văn Duy K2. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản của anh K2, N truy cập chuyển số tiền trên vào tài khoản của N tại Ngân hàng V5 và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 40.000.000 đồng.
  16. Khoảng đầu tháng 02 năm 2023, N điện thoại cho anh Thái Văn V, sinh năm 1983, thường trú tại số F, khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre cung cấp căn cước công dân và mượn điện thoại để làm thủ tục rồi qua bưu điện (gần Bệnh viện L6 cũ) để nhận giấy chứng nhận đăng ký xe (vì trước đây anh V có làm thủ tục vay mua xe trả góp với Công ty T3). Anh V đồng ý hẹn gặp N tại quán cà phê trên đường H, thành phố L. Tại đây, N đã lấy điện thoại, căn cước công dân của anh V làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 50.000.000 đồng và mở tài khoản số 0702849179 tại Ngân hàng M2 mang tên Thái Văn V. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của anh V thì bị N truy cập truy cập vào tài khoản của anh Văn C1 số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản số 0398051952 của Bùi Thanh V2 tại Ngân hàng M2 rồi chuyển số tiền trên vào tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 50.000.000 đồng.
  17. Tháng 01/2022, anh Vòng A L2, sinh năm 1966, thường trú tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai thông qua Nguyễn Quỳnh N ký hợp đồng vay tiền với Công ty T3 để mua xe mô tô trả góp đến tháng 10/2022 thì anh L2 đã thanh toán xong khoảng tiền vay và được nhận lại giấy chứng nhận đăng ký xe (bản chính). Ngày 04/02/2023, N chủ động điện thoại hẹn gặp anh L2 nói anh đã nhận lại giấy đăng ký xe và để tránh kiện tụng trực tiếp nên N yêu cầu anh L2 cung cấp căn cước công dân, giấy đăng ký xe để làm thủ tục hủy hợp đồng. Do tin lời N nên anh L2 đã đồng ý gặp N và đưa điện thoại, căn cước công dân cho N. Sau đó, N tự làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng và mở tài khoản số 0903605639 tại Ngân hàng M2 mang tên Vòng A L2. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền 80.000.000 đồng vào tài khoản của anh L2 thì bị N truy cập chuyển số tiền 80.000.000 đồng đến các tài khoản số 0798528954 tại Ngân hàng M2 mang tên Trần Thúy V3 và tài khoản số 19039716274017 tại Ngân hàng T4 mang tên Nguyễn Thị K1 rồi chuyển đến tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng.
  18. Tháng 01/2022, chị Lưu Thị T2, sinh năm 1974, thường trú tại tổ dân phố C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mua trả góp 01 lò nướng và thông qua Nguyễn Quỳnh N để làm thủ tục vay tiền Công ty T3. Đến khoảng đầu tháng 02/2023, N chủ động điện thoại cho chị Lưu Thị T2 và nói qua những lần trả góp chị T2 có trả dư số tiền 500.000 đồng nên N sẽ chuyển trả lại số tiền trên. Sau đó, N đến nhà chị T2 mượn điện thoại, căn cước công dân và lợi dụng chị T2 không để ý đã tự làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng và mở tài khoản số 0971379057 tại Ngân hàng M2 mang tên Lưu Thị T2. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển số tiền 80.000.000 đồng vào tài khoản của chị T2 thì bị N truy cập chuyển số tiền 80.000.000 đồng vào tài khoản số 152704070010900 tại Ngân hàng H2 mang tên Nguyen Thi Kim K3 và tài khoản số 0398051952 tại Ngân hàng M2 mang tên Bui Thanh V4. Sau đó, N chuyển số tiền 80.000.000 đồng trên đến tài khoản tại Ngân hàng V5 và tài khoản tại Ngân hàng M2 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 80.000.000 đồng.
  19. Cũng với thủ đoạn tương tự như trên, khoảng tháng 4/2023, N gặp anh Nguyễn Ái Q1, sinh năm 1981, thường trú tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nói “anh Q1 thanh toán cho Công ty T3 dư số tiền 500.000 đồng” nên yêu cầu anh Q1 cung cấp căn cước công dân và mượn điện thoại để làm thủ tục nhận lại số tiền trên. Sau đó, N đến Công ty N6, thành phố L nơi anh Q1 đang làm việc để gặp anh Q1. Tại đây, N đã mượn điện thoại, căn cước công dân của anh Q1 và tự làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 90.000.000 đồng, mở tài khoản số 19070323331013 tại Ngân hàng T4 mang tên Nguyễn Ái Q1 rồi sử dụng tài khoản của anh Q1. Sau đó, N đưa số tiền 500.000 đồng (tiền N ứng trước) đưa cho anh Q1. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của anh Q1 thì N truy cập chuyển số tiền 90.000.000 đồng đến tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 90.000.000 đồng.
  20. Ngày 01/4/2023, chị Nguyễn Thị Bích V1, sinh năm 1994, thường trú tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhờ N vay số tiền 30.000.000 đồng của Công ty T3, N dùng điện thoại của chị V1 đăng ký và sử dụng tài khoản của chị V1. Sau đó, N làm hồ sơ vay qua ứng dụng số tiền 30.000.000 đồng và tự mở tài khoản số 0362077194 tại Ngân hàng M2 mang tên Nguyễn Thị Bích V1. Sau khi, Công ty T3 giải ngân và chuyển tiền vào tài khoản của chị V1 thì N truy cập, chuyển số tiền vào đến tài khoản tại Ngân hàng V5 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 30.000.000 đồng.
  21. Khoảng tháng 7/2022, anh Mai Đức H1, sinh năm 1977, thường trú tại tổ G, khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai có vay tiền của Công ty T3 nên có quen biết Nguyễn Quỳnh N. Ngày 11/4/2023, N điện thoại cho anh H1 và đưa ra thông tin “Công ty Home Credit có chế độ ưu đãi được hưởng bảo hiểm số tiền 1.000.000 đồng”. N và anh H1 hẹn gặp nhau tại một quán cà phê thuộc đường K, phường X, thành phố L. Tại đây, N yêu cầu anh H1 cung cấp căn cước công dân, điện thoại để làm thủ tục nhận số tiền trên. Anh H1 tin tưởng đã đưa điện thoại, căn cước công dân cho N. Sau đó, N đã lợi dụng làm hồ sơ vay qua ứng dụng của Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng và mở tài khoản số 9703340839 tại Ngân hàng V5 mang tên Mai Đức H1. Sau khi Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của anh H1 thì bị N truy cập chuyển số tiền trên vào tài khoản V5 của Nguyễn Quỳnh N. Sau đó, N chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản số 180414849036985 của anh H1 mở tại Ngân hàng E và N chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 69.000.000 đồng.
  22. Tháng 5/2022, anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974, thường trú tại tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thông qua Nguyễn Quỳnh N vay số tiền 18.000.000 đồng của Công ty T3 để mua trả góp xe mô tô. Đến ngày 13/4/2023, N điện thoại cho anh S tại một quán chè thuộc xã B, huyện X tỉnh Đồng Nai. Tại đây, N đưa ra thông tin “Công ty T3 có chế độ ưu đãi giảm tiền đóng lãi xuất vay” và yêu cầu cung cấp căn cước công dân, mượn điện thoại để làm thủ tục giảm tiền lãi suất. Anh S đưa điện thoại và căn cước công dân. Sau đó, N đã lợi dụng làm hồ sơ vay qua ứng dụng số tiền 70.000.000 đồng và mở tài khoản số 0975670176 tại Ngân hàng M2 mang tên Nguyễn Thanh S. Sau khi, Công ty T3 giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của anh S, N truy cập truy chuyển số tiền trên đến tài khoản M2 của Nguyễn Quỳnh N và chiếm đoạt của Công ty T3 số tiền 70.000.000 đồng.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 28/11/2022 đến ngày 13/4/2023, Nguyễn Quỳnh N đã dùng thủ đoạn bằng việc đưa thông tin gian dối vay tiền giảm lãi suất, hỗ trợ tiền bảo hiểm khoản vay, mua xe trả góp hoặc hỗ trợ vay thêm. Nguyễn Quỳnh N đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV T3 với tổng số tiền là 1.394.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Nguyễn Quỳnh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 10.000.000 đồng do Cao Thị Thanh N4 giao nộp.

Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Đức N2 đại diện Công ty T3 yêu cầu Nguyễn Quỳnh N bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 1.394.000.000 đồng và đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Hiện Nguyễn Quỳnh N chưa bồi thường.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quỳnh N khai sử dụng số tiền đã chiếm đoạt chuyển vào tài khoản online sử dụng vào việc đánh bạc trên trang Web “ae888.com” và tiêu xài cá nhân.

Khi anh Hoàng Văn K, chị Nguyễn Thị Kim T1 và anh Mai Đức H1 biết Nguyễn Quỳnh N làm hợp đồng vay tiền với Công ty T3 nhiều hơn số tiền yêu cầu nên anh K, anh H1 và chị T1 đã nộp trả lại tiền cho Công ty T3.

- Tại Cáo trạng số 211/CT-VKS-P2 ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quỳnh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

- Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quỳnh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm 02 lần trở lên” điợc quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa có tiền án tiền sự, là dân lao động nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh N mức án từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quỳnh N phải bồi thường số tiền 1.394.000.000đ cho Công ty TNHH MTV T3.

Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV T3 số tiền 10.000.000 đồng do Cao Thị Thanh N4 giao nộp.

-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quỳnh N theo quy định của pháp luật:

Luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, tuy nhiên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do thiếu trách nhiệm và sự quản lý lỏng lẻo của phía bị hại, hơn nữa do bị cáo ham chơi cá độ tiền ảo qua mạng dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, về nhân thân xuất thân từ dân lao động bị cáo đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tạo cơ hội cho bị cáo làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của ơ"Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của ơ"Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

- Đại diện bị hại xin vắng mặt, Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và có trường hợp có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quỳnh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, hành vi của bị cáo trong vụ án này được xem xét đánh giá toàn diện trong mối quan hệ với chứng cứ khác để xác định đúng bản chất của vụ án, phù hợp với hành vi của bị cáo thực hiện mà kết luận điều tra cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô ược"tả được thể hiện như sau: Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 28/11/2022 đến ngày 13/4/2023, Nguyễn Quỳnh N đã gặp các anh chị Hoàng Văn K; Nguyễn Thị Kim T1; Trần A P; Vũ Ngọc Q; Lê Thị T; Phòng Thị Thanh C; Trần Thị L4; Phạm Nguyễn Trường G; Cao Thị Thanh N4; Lê Thị Hoài N5; Bùi Thị Lệ N3; Chương Sám M; Lưu Thị T2;Mai Đức H1; Nguyễn Ái Q1;Nguyễn Thanh S; Nguyễn Thị Bích V1; Nguyễn Thị K1; Phan Văn Duy K2; Thái Văn V; Thị D; Vòng A L2 rồi đưa ra thông tin gian dối vay tiền giảm lãi suất, hỗ trợ tiền bảo hiểm khoản vay, mua xe trả góp hoặc hỗ trợ khách hàng vay thêm tiền nên những người này đã tin tưởng cung cấp điện thoại, căn cước công dân và hình ảnh cho N. Sau đó, Nguyễn Quỳnh N đã lợi dụng làm hồ sơ vay qua ứng dụng, mở tài khoản ngân hàng O rồi sử dụng tài khoản của những người trên và chiếm đoạt của Công ty T3 tổng số tiền 1.394.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quỳnh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ thực hiện hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, làm giảm sút niềm tin và gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, gây hoang mang lo lắng cho người dân và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm, nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo nhiều lần nên phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc thành phần lao động. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa đại diện cho bị hại có đơn xin vắng mặt, nhưng có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 1.394.000.000đ (Một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền trên.

[6] Về xử lý vật chứng: Không

[7] Các vấn đề khác: Đối với các anh chị Hoàng Văn K; Nguyễn Thị Kim T1; Trần A P; Vũ Ngọc Q; Lê Thị T; Phòng Thị Thanh C; Trần Thị L4; Phạm Nguyễn Trường G; Cao Thị Thanh N4; Lê Thị Hoài N5; Bùi Thị Lệ N3; Chương Sám M; Lưu Thị T2; Mai Đức H1; Nguyễn Ái Q1; Nguyễn Thanh S; Nguyễn Thị Bích V1; Nguyễn Thị K1; Phan Văn Duy K2; Thái Văn V; Thị D; Vòng A L2 không biết và không được bàn bạc với Nguyễn Quỳnh N để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xử lý đối với những người trên là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với việc bị cáo Nguyễn Quỳnh N sử dụng số tiền chiếm đoạt dùng vào việc đánh bạc trên trang web “ae888.com”. Cơ quan điều tra tỉnh Đồng Nai đề nghị, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định.

[8] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 53.820.000 đ (năm mươi ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quỳnh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Áp dụng pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. Quyết định hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh N 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.

  1. Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Quỳnh N phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH MTV T3 số tiền 1.394.000.000đ (Một tỷ ba trăm chín mươi bốn triệu đồng).

- Trả lại cho Công ty T3 số tiền 10.000.000 đồng do Cao Thị Thanh N4 giao nộp theo Giấy nộp tiền số 27037763 ngày 01/10/2024.

  1. Thi hành án:

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

- Bị cáo Nguyễn Quỳnh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 53.820.000 đ (năm mươi ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dânsự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo (2);
  • - Bị hại (1)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (22);
  • - Luật sư (1)
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Vp và Tp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 234/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 28/11/2022 đến ngày 13/4/2023, Nguyễn Quỳnh Nh đã gặp các anh chị Hoàng Văn Kh; Nguyễn Thị Kim Th; Trần A Ph; Vũ Ngọc Q; Lê Thị Tr; Phòng Thị Thanh Ch; Trần Thị L; Phạm Nguyễn Trường G; Cao Thị Thanh Ng; Lê Thị Hoài Nh; Bùi Thị Lệ Ng; Chương Sám M; Lưu Thị Th; Mai Đức H; Nguyễn Ái Q; Nguyễn Thanh S; Nguyễn Thị Bích V; Nguyễn Thị K; Phan Văn Duy Kh; Thái Văn V; Thị D; Vòng A L rồi đưa ra thông tin gian dối vay tiền giảm lãi suất, hỗ trợ tiền bảo hiểm khoản vay, mua xe trả góp hoặc hỗ trợ khách hàng vay thêm tiền nên những người này đã tin tưởng cung cấp điện thoại, căn cước công dân và hình ảnh cho Nh. Sau đó, Nguyễn Quỳnh Nh đã lợi dụng làm hồ sơ vay qua ứng dụng, mở tài khoản ngân hàng Online rồi sử dụng tài khoản của những người trên và chiếm đoạt của Công ty H tổng số tiền 1.394.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quỳnh Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger