|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2024/HS-PT Ngày: 24-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Thi
Các thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Trần Đức Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị.
Đặng Thị Trinh N, sinh ngày 24/4/1991; tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Khối G, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: kinh doanh thuốc tây; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng T (sinh năm 1966) và bà Lê Thị T1 (sinh năm 1969); có chồng là Phạm Anh T2 (sinh năm 1992, đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam ngày 06/9/2022, có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị Trinh N:Ông Nguyễn Xuân B – Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: G P, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, có mặt
- Bị hại:
- Bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1996. Địa chỉ: Căn hộ S P, P, T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt
- Ông Thân Văn T4, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt
- Bà Thân Thị T5, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khối phố T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau.
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2020 đến tháng 12 năm 2022, để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, Đặng Thị Trinh N đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đưa ra thông tin là N làm đáo hạn ngân hàng có lãi suất cao; qua mạng xã hội đặt làm 01 con dấu của Văn phòng C, thành phố H, sau đó sử dụng con dấu này đóng vào các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sử dụng các hợp đồng giả này để những người bị hại tin tưởng cùng chung vốn với N hoặc cho N vay với lãi suất cao. Sau khi nhận được tiền của các bị hại, Đặng Thị Trinh N không dùng vào mục đích đáo hạn ngân hàng mà sử dụng một phần trả lãi cho các bị hại và chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân.
Quá trình điều tra xác định Đặng Thị Trinh N đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 03 (ba) bị hại với tổng số tiền là 9.307.313.000 đồng. Đồng thời, qua điều tra xác định Thân Văn T4 đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cụ thể:
1. Hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đặng Thị Trinh N:
- Đối với Nguyễn Thị Thanh N1:
Khoảng tháng 01 năm 2020, Đặng Thị Trinh N thỏa thuận chung tiền với Nguyễn Thị Thanh N1 (sinh năm 1990, trú tại Đường số A, Điện N, thị xã Đ) để làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng. Theo Đặng Thị Trinh N khai thì trong quá trình làm đáo hạn ngân hàng N2 bị một đối tượng (không rõ địa chỉ) lừa lấy số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), trong đó có số tiền N1 góp vốn là 500.000.000 đồng. Nữ không nói cho N1 biết mà tiếp tục nói dối với N1 là có khách hàng cần tiền để đáo hạn ngân hàng, N1 tin tưởng chuyển tiền cho N nhiều lần để làm đáo hạn. Trong thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2022, tổng số tiền N1 sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho N để làm đáo hạn ngân hàng cho khách nhằm hưởng chênh lệch lãi suất, số tiền là 12.776.520.502 đồng, nhưng thực tế Nữ không làm đáo hạn ngân hàng mà sử dụng số tiền này để trả gốc, lãi cho N1 ở các gói đáo hạn ngân hàng trước đó và tiền lãi suất (Nữ tự đặt ra) và trả tiền gốc và lãi cho những người khác; qua sao kê tài khoản Ngân hàng xác định số tiền mà bị cáo N chuyển khoản cho N1 là: 18.410.724.546 đồng.
Theo lời khai của N1 thì cuối năm 2021 và đầu năm 2022, khi N1 chốt lại số tiền gốc mà N nhận của N1 để làm đáo hạn ngân hàng trước đó thì N1 đề nghị Nữ giao lại các giấy tờ chứng minh là đã sử dụng số tiền của N1 để làm đáo hạn ngân hàng cho các khách hàng. Để không bị lộ, N đã làm giả hai hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất giữa N với Nguyễn Quốc A, Vương Quốc M để thể hiện N đã dùng số tiền của N1 để đáo hạn ngân hàng cho A và M và N đã yêu cầu V, M chuyển tài sản khác qua cho N để đảm bảo việc đáo hạn; Nữ giao hai hợp đồng này cho N1 làm tin.
Quá trình điều tra xác định tổng cộng số tiền N1 chuyển cho Nữ 12.776.520.502 đồng, bị cáo N chuyển cho N1 18.410.724.546 đồng, số tiền mà N chuyển cho N1 nhiều hơn N1 chuyển cho N là 5.634.204.044 đồng nên không có căn cứ xác định bị cáo N chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thị Thanh N1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với N lừa đảo N1 về khoản tiền vay này.
- Đối với Thân Thị T5:
Trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, Đặng Thị Trinh N nhiều lần nhận tiền của T5 qua tài khoản ngân hàng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách nhằm hưởng chênh lệch lãi suất theo thỏa thuận giữa T5 và N, nhưng thực tế N không làm đáo hạn ngân hàng mà sử dụng số tiền của T5 trả tiền gốc, lãi cho những khoản tiền nhận làm đáo hạn ngân hàng cho N1, T4 và tiền mua đất cho T3 trước đó, tổng số tiền T5 chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho N là 8.942.340.000 đồng, tổng số tiền N chuyển trả cho T5 là 3.312.827.000 đồng. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng, xác định số tiền Đặng Thị Trinh N chiếm đoạt của Thân Thị T5 là 5.629.513.000 đồng (năm tỷ sáu trăm hai mươi chín triệu năm trăm mười ba nghìn đồng)
- Đối với Thân Văn T4:
Từ ngày 02/11/2021 đến ngày 10/01/2022, Thân Văn T4 chuyển tiền cho N vay có lãi suất qua tài khoản ngân hàng và giao tiền mặt cho N tổng cộng 08 lần, tổng số tiền là 11.560.000.000 đồng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng, nhưng N không thực hiện mà sử dụng số tiền này trả tiền gốc, lãi suất (tự đặt ra) cho T3, T5, N1. Sau khi nhận tiền của T4 và sợ T4 phát hiện bản thân đã sử dụng số tiền trên không đúng mục đích nên N làm giả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nữ với các cá nhân Nguyễn Huỳnh Bi H, Trần Thị Kim P tổng số tiền là: 4.530.000.000 đồng, giao cho T4 và nói là đã sử dụng số tiền của T4 để làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng và khách hàng P, H chuyển nhượng các thửa đất khác sang để đảm bảo khoản tiền đã đáo hạn. Nữ sử dụng con dấu giả Văn phòng C, thành phố H để đóng dấu, tự lăn dấu vân tay, viết họ tên người bán đất, tự ký chữ ký của Công chứng viên. Sao kê tài khoản ngân hàng xác định Đặng Thị Trinh N đã chuyển trả cho Thân Văn T4 số tiền 7.570.000.000 đồng, trả tiền mặt với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền mà N chiếm đoạt từ việc thực hiện hành vi phạm tội với T4 là 2.990.000.000 đồng.
- Đối với Đoàn Thị T3:
Trong khoảng thời gian từ 13/10/2021 đến ngày 11/01/2022, Đoàn Thị T3 sử dụng 02 số tài khoản ngân hàng của mình là 19228991188888 (T8), 0351000836668 (V1) chuyển tiền vào tài khoản T8, V2 06510000794751 của Đặng Thị Trinh N nhiều lần để Nữ mua đất giúp hoặc chung tiền với N mua đất nền tại Khu dân cư P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, tổng số tiền T3 chuyển đến cho N để mua đất nền hoặc góp với N để mua đất nền là: 27.686.800.000 đồng; tổng số tiền N chuyển cho T3 để trả tiền gốc và tiền lời là 26.999.000.000 đồng. Số tiền Đặng Thị Trinh N chiếm đoạt của Đoàn Thị T3 là 687.800.000 đồng.
2. Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Thân Văn T4:
Trong thời gian từ ngày 02/11/2021 đến 10/01/2022, T4 chuyển tiền cho N vay để lấy lãi nhiều lần để N làm đáo hạn ngân hàng hoặc góp chung với N để đáo hạn, tổng số tiền T4 chuyển cho N để làm đáo hạn ngân hàng là 11.560.000.000 đồng. Nữ chuyển khoản trả cho T4 số tiền là 7.570.000.000 đồng, N đã khắc phục cho T4 số tiền 1.000.000.000 đồng. Hiện tại N chiếm đoạt của T4 số tiền là 2.990.000.000 đồng, cụ thể:
2.1. Ngày 20/11/2021, T4 chuyển cho N số tiền là 1.400.000.000 đồng để N làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng của N, lãi suất sáu chấm, có nghĩa là 0,6%/triệu/ngày/tổng số tiền vay.
Ngày 24/11/2021, N chuyển trả cho T4 số tiền gốc, tiền lãi suất trong thời gian 05 ngày là 42.000.000 đồng (0,6% x 1.400.000.000 đồng x 5 ngày = 42.000.000 đồng), nội dung: “gui a thi tien mau hs 1ty 4”. Theo đó, mức lãi suất 18%/tháng và 216%/năm (đã vượt quá gấp 10,8 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự). Đối với khoản vay này, số tiền lãi mà T4 đã thu lợi bất chính được tính theo cách tính sau:
- Số tiền lãi suất tối đa của khoản tiền cho vay 1.400.000.000 đồng mà T4 được hưởng theo quy định của Bộ luật dân sự trong 01 ngày là ((1.400.000.000 đồng X 20%) : 12 tháng) : 30 ngày = 777.778 đồng.
- Số tiền lãi suất tối đa của khoản tiền vay 1.400.000.000 đồng mà T4 được hưởng theo quy định của Bộ luật dân sự trong 05 ngày là 777.778 x 05 ngày = 3.888.890 đồng.
- Số tiền thu lợi bất chính của khoản vay trên là 42.000.000 đồng – 3.888.890 đồng = 38.111.110 đồng.
2.2. Ngày 27/11/2021, T4 chuyển cho N số tiền là 750.000.000 đồng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách của N, lãi suất sáu chấm, có nghĩa là 0.6%/triệu/ngày/tổng số tiền vay, thời hạn vay là 04 ngày.
Ngày 30/11/2021, N chuyển trả cho T4 số tiền gốc, tiền lãi suất là 18.000.000 đồng (0.6% x 750.000.000 đồng x 04 ngày = 18.000.000 đồng). T4 chuyển cho N 1.500.000 đồng là tiền công.
Theo đó, mức lãi suất mà T4 cho N vay là 0.6%, tương đương với mức lãi suất 18%/tháng và 216%/năm (đã vượt quá gấp 10,8 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự). Đối với khoản vay này, số tiền lãi mà T4 đã thu lợi bất chính số tiền 18.000.000 đồng – 1.666.668 đồng = 16.333.332 đồng.
2.3. Ngày 08/12/2021, T4 chuyển cho N số tiền là 1.420.000.000 đồng để N làm đáo hạn ngân hàng cho khách, lãi suất sáu chấm, có nghĩa là: 0.6%/triệu/ngày/tổng số tiền vay, mượn.
Ngày 14/12/2021, N chuyển trả cho T4 số tiền gốc, tiền lãi suất: 59.640.000 đồng, trong thời hạn 07 ngày (0,6% x 1.420.000.000 đồng x 07 ngày = 59.640.000 đồng). Theo đó, mức lãi suất mà T4 cho N vay là 0.6 %/ngày, tương đương với mức lãi suất 18%/tháng và 216%/năm (đã vượt quá gấp 10,8 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự). Đối với khoản vay này, số tiền lãi mà T4 đã thu lợi bất chính số tiền 59.640.000 đồng – 5.522.222 đồng = 54.117.778 đồng.
2.4. Ngày 15/12/2021, T4 chuyển cho N số tiền 2.250.000.000 đồng để N làm đáo đạn Ngân hàng cho khách của N, lãi suất bảy chấm, có nghĩa 0.7%/triệu/ngày/tổng số tiền vay. Theo đó, mức lãi suất mà T4 cho N vay là 0.7/ngày, tương đương với mức lãi suất 21/tháng và 252%/năm (đã vượt quá gấp 12.6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự).
Ngày 22/12/2021, N chuyển trả cho T4 số tiền gốc 1.250.000.000 đồng, chuyển trả số tiền lãi suất trong thời gian 08 ngày của khoản vay này là 126.000.000 đồng (0,7% x 2.250.000.000 đồng x 08 ngày = 126.000.000 đồng). T3 lợi bất chính số tiền 126.000.000 đồng – 10.000.000 đồng = 116.000.000 đồng).
Ngày 24/12/2021, N chuyển trả cho T4 số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng, N chuyển trả số tiền lãi suất trong thời gian 03 (ba) ngày là 21.000.000 đồng (0.7% x 1.000.000.000 đồng x 03 ngày = 21.000.000 đồng). T3 lợi bất chính số tiền là 21.000.000 đồng – 3.750.000 đồng = 17.250.000 đồng.
Ngày 23/12/2021, T4 chuyển cho N số tiền 2.730.000.000 đồng, ngày 27/12/2021, T4 chuyển cho N số tiền 960.000.000 đồng, ngày 10/01/2022, T4 chuyển cho N số tiền 300.000.000 đồng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách của N. Nữ chưa trả tiền lãi và gốc các lần này cho T4 thì bị phát hiện xử lý.
Ngoài ra, ngày 02/11/2021, T4 chuyển cho N số tiền là 1.750.000.000 đồng để N làm đáo hạn ngân hàng cho khách. Số tiền này là T4 giao tiền mặt cho N chứ không chuyển khoản và không liên quan gì đến tiền đáo hạn ngân hàng giữa vợ T4 và chị N. T4 không tính lãi suất cho N số tiền này. Ngày 22/11/2021, N có chuyển khoản cho T4 tiền công là 3.500.000 đồng.
Như vậy, bị cáo Thân Văn T4 đã chuyển cho N tổng cộng số tiền 11.560.000.000 đồng, trong đó có lần chuyển tiền vào ngày 02/11/2021, T4 chuyển cho N số tiền là 1.750.000.000 đồng để N làm đáo hạn ngân hàng cho khách, số tiền này T4 không tính lãi suất cho N số tiền này. Ngày 22/11/2021, N có chuyển khoản cho T4 tiền công là 3.500.000 đồng. Vì vậy, tổng cộng số tiền T4 cho N vay nặng lãi là 9.810.000.000 đồng, T4 thu tổng cộng số tiền lãi là 266.640.000 đồng, trong đó tiền lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm là 24.827.780 đồng, tiền lãi trên 20%/năm T4 thu lợi bất chính là 241.812.220 đồng.
* Kết luận giám định:
Kết luận số 86 ngày 28/7/2022, Kết luận số 141 ngày 09/12/2022 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết, dấu vân tay dưới mục: Người chuyển nhượng trên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nữ với Nguyễn Huỳnh Bi H, Trần Thị Kim P, Vương Quốc M, Nguyễn Quốc A là do Đặng Thị Trinh N viết ra và dấu vân tay của Đặng Thị Trinh N.
- - Đối với con dấu tròn, dấu tên của Văn phòng C trên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nữ với Nguyễn Huỳnh Bi H, Trần Thị Kim P, Vương Quốc M, Nguyễn Quốc A không phải của Văn phòng C đóng ra.
- - Chữ ký, chữ viết, dấu vân tay dưới mục: Người chuyển nhượng trên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa N và Nguyền Huỳnh Bi H, Trần Thị Kim P, Vương Quốc M, Nguyễn Quốc A là do Đặng Thị Trinh N viết ra và dấu vân tay của Đặng Thị Trinh N.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) con dấu tròn, 01 (một) con dấu tên của Văn phòng C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam do Đặng Thị Trinh N giao nộp.
- - 01 (một) USB ghi âm cuộc gọi giữa Đặng Thị Trinh N và Đoàn Thị T3, do T3 giao nộp.
- - 04 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả mà Đặng Thị Trinh N (bên nhận chuyển nhượng lập) với bên chuyển nhượng gồm: Nguyễn Huỳnh Bi H, Nguyễn Quốc A, Trần Thị Kim P, Vương Quốc M do các bị hại cung cấp.
Từ những nội dung đã được xác định nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Trinh N phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Thị Trinh N phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/9/2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định đối với bị cáo Thân Văn T4 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo T4 không kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/02/2024 bị cáo bị cáo Đặng Thị Trinh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 29/02/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 17/QĐ-VC2, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N.
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:
- Về tố tụng, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khác đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
Về nội dung, sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, giảm cho bị cáo Đặng Thị Trinh N một phần hình phạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối trừ tiền chuyển dư của bị cáo trong phần Quyết định về trách nhiệm dân sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N, xử bị cáo mức án từ 9 đến 10 năm tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Tại giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử, những người tiến hành và tham gia tố tụng khác đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Kháng cáo và kháng nghị là hợp lệ, trong thời hạn luật định.
- Việc vắng mặt của các bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án, do vậy, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về tính chất hành vi, hậu quả phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Thị Trinh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Đầu năm 2020, do làm ăn kinh doanh thua lỗ, để có tiền trả nợ, bị cáo Đặng Thị Trinh N đã đưa ra thông tin gian dối với Thân Văn T4 và Thân Thị T5 là nhận tiền làm đáo hạn ngân hàng và Đoàn Thị T3 là để mua đất hoặc góp tiền mua đất chung để các bị hại chuyển tiền cho N vay hoặc mượn. Sau khi nhận được tiền của các bị hại, N sử dụng một phần số tiền này để trả tiền gốc, tiền lãi suất (do N tự đặt ra) và tiền lời qua việc đáo hạn ngân hàng và mua bán đất có được cho các người bị hại, số tiền còn lại N sử dụng vào việc cá nhân dẫn đến không có tiền để trả lại cho các bị hại. Để tạo niềm tin cho bị hại giao tiền, N đã đặt mua con dấu giả trên mạng xã hội (làm giả con dấu Văn phòng C), sau đó bị cáo tự làm giả 04 hợp đồng chuyển nhượng đất, tự lăn dấu vân tay, viết họ tên người chuyển nhượng đất, tự ký chữ ký của công chứng viên, sử dụng con dấu giả Văn phòng C đóng vào các hợp đồng này để giao cho các bị hại tin tưởng là Nữ có tài sản để các bị hại giao tiền cho N sau đó chiếm đoạt. Tổng số tiền Đặng Thị Trinh N chiếm đoạt của 03 bị hại tổng cộng là 9.307.313.000 đồng, cụ thể: Chiếm đoạt của Thân Thị T5 5.629.513.000 đồng, chiếm đoạt của Thân Văn T4 2.990.000.000 đồng, chiếm đoạt của Đoàn Thị T3 687.800.000 đồng.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã xét xử bị cáo Đặng Thị Trinh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đồng thời đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội danh này, xét thấy: Bị cáo có hành vi lừa đảo nhiều người, số tiền chiếm đoạt rất lớn, bên cạnh còn phạm vào một tội phạm nghiêm trọng khác, tại giai đoạn phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ gì mới, tại Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T6 13 năm tù là tương xứng, do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt đối vớitội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, giữ nguyên Quyết định về hình phạt đối với tội danh nêu trên tại Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo đề nghị đối trừ phần tiền do bị cáo chuyển thừa trong phần trách nhiệm dân sự, xét thấy, bị cáo không kháng cáo nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2]. Đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, xét thấy: bị cáo Đặng Thị Trinh N đã có hành vi đặt mua con dấu giả trên mạng xã hội (con dấu giả Văn phòng C), sau đó bị cáo tự làm giả 04 hợp đồng chuyển nhượng đất, tự lăn dấu vân tay, viết họ tên người chuyển nhượng đất, tự ký chữ ký của Công chứng viên, sử dụng con dấu giả Văn phòng C đóng vào các Hợp đồng này để giao cho các bị hại, nhằm tại sự tin tưởng là bị cáo N có tài sản để các bị hại giao tiền cho N, sau đó bị chiếm đoạt. Tổng số tiền Đặng Thị Trinh N chiếm đoạt của 03 bị hại tổng cộng là 9.307.313.000 đồng, như vậy, cùng một đối tượng giấy tờ, tài liệu, con dấu bị cáo đã làm giả nhưng bị cáo sử dụng trong vụ án này, vừa phạm vào tình tiết định khung “Làm giả từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và vừa phạm vào tình tiết định khung “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là những tình tiết định khung tăng nặng nằm trong cùng một điều luật, có chung một đối tượng con dấu, giấy tờ, tài liệu làm giả nhưng phạm vào hai tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 2 và khoản 3 Điều 341 BLHS, nhưng tại Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về hai tội danh trong cùng một điều luật và tổng hợp hình phạt về nhiều tội là không đúng pháp luật làm bất lợi cho bị cáo N.
[3]. Xem xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng, xét thấy: Nội dung kháng nghị cho rằng cần áp dụng khoản 1 Điều 341, xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, như đã nhận định nêu trên, việc xét xử bị cáo về 02 tội danh là không đúng pháp luật, tuy nhiên, theo đề nghị của kháng nghị nhằm không gây bất lợi trong việc áp dụng pháp luật, nhằm giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị để giảm hình phạt đối với bị cáo.
[4]. Đối với kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Trinh N thì chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, phù hợp với nhận định áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xử, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và một phần kháng nghị, sửa Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm, tuyên bố bị cáo Đặng Thị Trinh N phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, áp dụng điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo Đặng Thị Trinh N, xử phạt bị cáo theo chế tài được quy định tại khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Đặng Thị Trinh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Thân Văn T4; Trách nhiệm dân sự; Biện pháp tư pháp; Xử lý vật chứng; Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 17/QĐ-VC2 ngày 29/02/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Trinh N, sửa một phần Quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Trinh N phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Đặng Thị Trinh N 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T7 Nữ03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. - Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tổng hợp hình phạt cả 02 tội, buộc bị cáo Đặng Thị Trinh N phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 06/9/2022. - Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Thị Trinh N không phải chịu án phí.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Thân Văn T4; Trách nhiệm dân sự; biện pháp tư pháp; Xử lý vật chứng; Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |
Bản án số 234/2024/HS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 234/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 17/QĐ-VC2 ngày 29/02/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Trinh N, sửa một phần Quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Trinh N tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
