Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 234/2024/HS-PT
Ngày: 10/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đại Long.

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 260/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn H + ĐB, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Ngô Văn H - sinh năm 1981; Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: SN A Hồ T, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Ngô Văn H1 và bà Hoàng Thị V (đều đã chết). Vợ: Trần Thị Thanh H2 - sinh năm 1988. Bị cáo có 06 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: không.
  2. Tiền án: - Tại Bản án HSST số 140/2013/HSST ngày 19/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2015, đã nộp xong án phí, chưa nộp tiền phạt và khoản thu lợi bất chính).
  3. Tại Bản án HSST số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (đang hoãn chấp hành hình phạt tù số 38/2022/THAHS-QĐ ngày 18/11/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2023 đến ngày 16/8/2023 chuyển tạm giam, ngày 01/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  1. Lê Thị H3: sinh năm 1991; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Kế toán. Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn M và bà Ngô Thị D. Chồng: Hoàng Thanh T - sinh năm 1990, có 02 con (con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019); Tiền sự: không.
  2. Tiền án: Tại Bản án HSST số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 200.000.000đ về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (đã thi hành án xong bản án ngày 12/4/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  1. Ngô Thanh T1: sinh năm 1979; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Thành T2 (đã chết), con bà Phạm Thị N. Vợ: Nguyễn Thị Thu O - sinh năm 1987, có 01 con sinh năm 2013; Tiền sự: không.
  2. Tiền án: Tại Bản án HSST số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 220.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (đã thi hành án xong bản án ngày 10/01/2023).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2023 đến ngày 10/8/2023 chuyển tạm giam, ngày 27/8/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

  1. Hoàng Cẩm A: sinh năm 1992; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: S4, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: SN C, ngõ C, đường Đ, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Căn hộ S, Tòa SA3 (U39.1), Ô đất F3-CH02 và F3-CH03-2, Dự án KĐT mới T, Đ - Vinhomes park (Vinhomes S - P khu S), phường T, quận N, thành phố Hà Nội (Tạm trú từ ngày 05/6/2024 có xác nhận của Công an phường T). Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Hoàng Văn H4 và bà Hà Thị P; Chồng: Bùi Văn Đ - sinh năm 1992, có 02 con (lớn snh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Trịnh Văn T3 kháng cáo, nhưng trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Các bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị: Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị D1, Lê Thị L, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6, Đỗ Thị V1, Nguyễn Thị P1, Trần Xuân C, Lê Thị Thùy D2.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Quang V2 - sinh năm 1990. Vắng mặt.
  2. Nơi cư trú: Khu phố F, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Chị Nguyễn Thị Thu H7 - sinh năm 1980. Vắng mặt.
  4. Nơi cư trú: Khu phố F, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Bà Nguyễn Thị P1 - sinh năm 1957. Vắng mặt.
  6. Nơi ĐKNKTT: SN 32 Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội.

    Nơi ở hiện nay: Phòng 1903, Tầng A, Sảnh B, Chung cư I, số D M, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội.

  7. Anh Dương Hồ P2 - sinh năm 1978. Vắng mặt.
  8. Nơi cư trú: Phòng 804, Tòa P, KĐT V, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.

  9. Chị Đàm Thị L1 - sinh năm 1980. Vắng mặt.
  10. Nơi cư trú: Phòng 118 HH1A L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

  11. Chị Đoàn Thị S1 - sinh năm 1991. Vắng mặt.
  12. Nơi cư trú: SN E, đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

  13. Anh Trần Mạnh H8 - sinh năm 1988. Vắng mặt.
  14. Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội.

  15. Công ty Cổ phần Đ3. Vắng mặt.
  16. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Đức T6 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Lô A, khu công nghiệp L, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  17. Công ty Cổ phần X. Vắng mặt.
  18. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Sỹ T7 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam.

  19. Công ty TNHH N4. Vắng mặt.
  20. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T8 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Tầng B, Số A, Q A, phố T, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

  21. Công ty CP V5. Vắng mặt.
  22. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tất Q - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Số G N, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

  23. Công ty TNHH T17. Vắng mặt.
  24. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N1 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Đ, thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

  25. Công ty Cổ phần V6. Vắng mặt.
  26. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc V3 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

  27. Công ty TNHH Đ4. Vắng mặt.
  28. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T9 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

  29. Công ty TNHH T18. Vắng mặt.
  30. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lường Đức H9 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: SN C, đường M, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

  31. Công ty TNHH T19. Vắng mặt.
  32. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị Q1 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  33. Công ty CP K Vắng mặt.
  34. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công S2 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: SN B, phố B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

  35. Công ty CP Đ5. Vắng mặt.
  36. Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị D3 - Chức vụ: Giám đốc.

    Địa chỉ: SN H T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được nguồn tin báo về tội phạm của Chi cục T20 khu vực thành phố T - Đ về việc Công ty trách nhiệm hữu hạn ( (địa chỉ: SN B H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) có hành vi sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) bất hợp pháp. Ngày 01/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố T đã triệu tập Lê Thị L, Trần Xuân C và Nguyễn Thị H5 lên làm việc, cả ba đối tượng đều đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, Lê Thị L trực tiếp tham gia quản lý, điều hành cùng với giám đốc 03 công ty, gồm: Công ty TNHH ( (địa chỉ: S H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) do Trần Xuân C làm giám đốc; Công ty Cổ phần K1 (địa chỉ: khu phố D, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa) do Nguyễn Quang V2 làm giám đốc; Công ty TNHH T21 (địa chỉ: khu phố F, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa) do Nguyễn Thị Thu H7 làm giám đốc. Các công ty này đều có hoạt động kinh doanh thực tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Than các loại. Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh Lê Thị L đã mua hàng hóa là Than không rõ nguồn gốc, không có hóa đơn chứng từ kèm theo.

Để hợp thức nguồn gốc hàng hóa đầu vào, Lê Thị L đã liên hệ mua hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Nguyễn Văn Đ1 và Hoàng Cẩm A. Sau đó, L thuê Nguyễn Thị H5 làm kế toán cho 03 công ty trên, giao cho H5 liên hệ với Nguyễn Thị D1 là kế toán của Nguyễn Văn Đ1 để H5 cung cấp số liệu ghi khống trên hóa đơn, số tiền cần chuyển hợp thức nguồn tiền cho Nguyễn Thị D1, sau đó D1 xuất hóa đơn không có hàng hóa kèm theo cho 03 công ty do H5 làm kế toán. Trần Xuân C là giám đốc Công ty TNHH ( 555 biết rõ việc mua trái phép hóa đơn, tham gia ký chứng từ, đi Ngân hàng hợp thức việc mua trái phép hóa đơn của Công ty TNHH (, cụ thể:

* Tại Công ty TNHH (:

Lê Thị L cùng Trần Xuân C và Nguyễn Thị H5 đã mua trái phép 36 hóa đơn GTGT của 09 công ty, với tổng số tiền trên hóa đơn trước thuế là 230.106.122.000 đồng, bao gồm:

  1. Công ty TNHH K2, địa chỉ tại thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Công ty TNHH T22, địa chỉ tại thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Công ty TNHH K1, địa chỉ tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Công ty TNHH T23, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Công ty TNHH D6, địa chỉ tại thôn S, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  6. Công ty TNHH T24, địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  7. Công ty TNHH V7, địa chỉ tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  8. Công ty TNHH V8, địa chỉ tại thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  9. Công ty TNHH X1, địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ngoài ra, Lê Thị L cùng Nguyễn Thị H5 đã mua trái phép 01 hóa đơn không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH T25, địa chỉ A P, phường F, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Giám đốc công ty là ông Bùi Minh T10, với số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 5.955.735.000 đồng. Việc L và H5 mua bán trái phép hóa đơn này Trần Xuân C không biết.

* Tại Công ty Cổ phần K1 và Công ty TNHH T21:

Lê Thị L thỏa thuận trong việc điều hành các công ty với Nguyễn Quang V2 - Giám đốc Công ty Cổ phần K1 và Nguyễn Thị Thu H7 - Giám đốc Công ty TNHH T21 như sau: Lê Thị L phụ trách việc mua hàng hóa đầu vào, lấy hóa đơn GTGT về cho 02 công ty, cả 02 công ty đều do Nguyễn Thị H5 làm kế toán, Nguyễn Quang V2 và Nguyễn Thị Thu H7 quản lý kho bãi tập kết hàng hóa, phụ trách việc giao dịch với khách mua hàng, Lê Thị Lương B lại với V2, H7 toàn bộ hàng hóa đều có hóa đơn GTGT kèm theo, V2 và H7 không biết việc Lê Thị L và Nguyễn Thị H5 mua trái phép hóa đơn để hợp thức nguồn gốc hàng hóa mua vào. Cụ thể, Lê Thị L và Nguyễn Thị H5 đã mua trái phép 226 hóa đơn không có hàng hóa kèm theo của 13 công ty, gồm:

  1. Công ty TNHH Đ6, địa chỉ đội B, xã N, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo pháp luật là bà Hoàng Cẩm A 78 số hoá đơn (trong đó có 24 số hóa đơn giấy, 54 hóa đơn điện tử) với tổng số tiền trước thuế là 745.549.037.230 đồng.
  2. Công ty TNHH T26, địa chỉ thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Nguyễn Trọng T11 34 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 211.722.458.045 đồng.
  3. Công ty TNHH T27, địa chỉ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là bà Phan Thị D4 04 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 29.218.130.700 đồng.
  4. Công ty TNHH Đ7, địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Trương Văn L2 32 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 183.549.906.050 đồng.
  5. Công ty TNHH T28, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Đỗ Thành L3 31 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 193.334.869.300 đồng.
  6. Công ty TNHH MTV T29, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Giám đốc công ty là ông Vũ Văn H10 03 số hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền trước thuế là 23.639.858.000 đồng.
  7. Công ty TNHH T30, địa chỉ tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Giám đốc công ty là ông Nguyễn Tuấn P3 02 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 16.183.476.000 đồng.
  8. Công ty TNHH MTV X2, địa chỉ thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Nguyễn Duy H11 18 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 145.414.292.505 đồng.
  9. Công ty TNHH T31, địa chỉ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là bà Trịnh Thị D5 01 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 7.302.863.400 đồng.
  10. Công ty TNHH X1, địa chỉ thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là bà Trần Thị Kim C1 04 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 11.747.349.000 đồng.
  11. Công ty TNHH K1, địa chỉ thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Nguyễn Văn S 02 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 4.835.375.000 đồng.
  12. Công ty TNHH D6, địa chỉ thôn S, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Vũ Hữu H12 10 số hóa đơn với tổng số tiển trước thuế là 71.809.415.304 đồng.
  13. Công ty TNHH T24, địa chỉ thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giám đốc công ty là ông Nguyễn Văn T12 07 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 57.812.264.444 đồng.

Ngoài việc mua hóa đơn để hợp thức hóa đầu vào cho Công ty TNHH (, Công ty Cổ phần K1, Công ty TNHH T21 thì Lê Thị L và Nguyễn Thị H5 còn mua trái phép các hóa đơn của Công ty Đ6 do Hoàng Cẩm A quản lý điều hành không có hàng hóa kèm theo, sau đó xuất bán kèm theo hàng hóa đã mua không rõ nguồn gốc xuất xứ. Tổng cộng 15 số hóa đơn, ghi khống số tiền trên hóa đơn trước thuế là 135.375.827.000 đồng, gồm:

  1. Công ty CP Đ8, địa chỉ lô A, khu Công nghiệp L, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, người đại diện ông Đỗ Đức T6 01 hóa đơn.
  2. Công ty Cổ phần X, địa chỉ thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, người đại diện ông Nguyễn Sỹ T7 08 hóa đơn.
  3. Công ty TNHH N4, địa chỉ tầng B, số A, Q A, phố T, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, người đại diện ông Vũ Văn T8 01 hóa đơn.
  4. Công ty CP V5, địa chỉ G N, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, người đại diện ông Nguyễn Tất Q 02 hóa đơn.
  5. Công ty TNHH T17, địa chỉ đội D, thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương, người đại diện bà Nguyễn Thị N1 03 hóa đơn.

Người đại diện của 05 Công ty này đều không biết việc Lê Thị L mua trái phép hóa đơn, các đơn vị nhận hóa đơn đều có hàng hóa kèm theo.

Đối với chi phí mua hóa đơn, Lê Thị L mua các hóa đơn không có hàng hóa kèm theo của Nguyễn Văn Đ1 với nhiều chi phí khác nhau, thanh toán với nhau bằng tiền mặt, quá trình điều tra, không xác định được Lê Thị L đã trả bao nhiêu tiền để mua hóa đơn trái phép.

Về phần xác định số tiền thu lời bất chính: Nguyễn Thị H5 được Lê Thị L và giám đốc 03 Công ty: Công ty TNHH (, Công ty Cổ phần K1 và Công ty TNHH T21 trả lương cho việc làm kế toán 03 công ty đối với hoạt động kinh doanh thực tế, Nguyễn Thị H5 không được hưởng lợi từ việc tham gia mua bán trái phép hóa đơn; Trần Xuân C và Lê Thị L thỏa thuận sẽ chia tiền lợi nhuận từ việc mua bán hàng hóa của Công ty TNHH (, không được hưởng lợi trực tiếp từ việc mua bán trái phép hóa đơn. Tuy nhiên, Công ty TNHH ( 555 kinh doanh chưa có lãi nên không được hưởng lợi.

* Như vậy, đủ căn cứ xác định: Lê Thị L và Nguyễn Thị H5 đã mua bán trái phép 278 hóa đơn giá trị gia tăng, ghi khống số tiền trên hóa đơn trước thuế là 2.073.556.980.000 đồng (Hai nghìn, không trăm bảy ba tỷ, năm trăm năm sáu triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng); Trần Xuân C mua bán trái phép 36 hóa đơn giá trị gia tăng, ghi khống số tiền trên hóa đơn trước thuế là 230.106.122.000 đồng (Hai trăm ba mươi tỷ, một trăm lẻ sáu triệu, một trăm hai hai nghìn đồng).

* Quá trình điều tra mở rộng, xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 06/2022 đến tháng 06/2023, Ngô Văn Hoàn thành L4, quản lý, điều hành 17 công ty không có hoạt động kinh doanh thực tế, mục đích để bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng, thu lời bất chính, bao gồm:

  1. Công ty TNHH K2, địa chỉ tại thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Mạnh H13.
  2. Công ty TNHH T22, địa chỉ tại thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nghiêm Quang H14.
  3. Công ty TNHH K1, địa chỉ tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Văn S.
  4. Công ty TNHH T23, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Hà Văn N2.
  5. Công ty TNHH V7, địa chỉ tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Phùng Văn M1.
  6. Công ty TNHH V8, địa chỉ tại thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là Lương Văn H15.
  7. Công ty TNHH X1, địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là bà Trần Thị Kim C1.
  8. Công ty TNHH T28, địa chỉ tại thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Đỗ Thành L3.
  9. Công ty TNHH Đ7, địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Trương Văn L2.
  10. Công ty TNHH T26, địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Trọng T11.
  11. Công ty TNHH T30, địa chỉ tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Tuấn P3.
  12. Công ty TNHH MTV T29, địa chỉ tại Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Giám đốc công ty là ông Vũ Văn H10.
  13. Công ty TNHH T25, địa chỉ tại A P, phường F, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc công ty là ông Bùi Minh T10.
  14. Công ty TNHH T32, địa chỉ tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là bà Nguyễn Thị Thu H16.
  15. Công ty TNHH S5, địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là bà Trần Quỳnh A1.
  16. Công ty TNHH T33, địa chỉ tại thôn X, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Văn Q2.
  17. Công ty TNHH Đ9 và D7, địa chỉ tại Phố V, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Vi Văn T13.

Để thành lập 17 công ty này, Ngô Văn H đã thuê Nguyễn Văn S thành lập 08 công ty để nhận hóa đơn, chứng từ, bộ C3, cụ thể: Thành lập Công ty TNHH T34, vận tải Mạnh Đ2 với số tiền 80.000.000 đồng; Công ty TNHH K2, Công ty TNHH T22, Công ty TNHH K1, Công ty TNHH T23, Công ty TNHH V7, Công ty TNHH V8, Công ty TNHH X1 với số tiền 20.000.000 đồng/01 công ty. Tổng cộng 140.000.000 đồng, H đã trả công cho Nguyễn Văn S 80.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Văn S đã thuê Trịnh Văn T3 lập các công ty để bán hóa đơn kiếm lời, S đã tìm giấy tờ tùy thân của nhiều người trên mạng Internet, cửa hiệu cầm đồ, sau đó chuyển lại cho T3 làm thủ tục thành lập công ty. Trình biết rõ các công ty này đều không có hoạt động sản xuất kinh doanh, những người đứng tên đại diện theo pháp luật không tham gia vào hoạt động của công ty, mục đích lập công ty để Ngô Văn H và Nguyễn Văn S bán trái phép hóa đơn. Trình lập các công ty bằng cách liên hệ với một số người làm dịch vụ thành lập công ty trên mạng Inernet. S trả cho T3 số tiền 80.000.000 đồng để lập Công ty TNHH T34, vận tải Mạnh Đức, 20.000.000 đồng/01 công ty đối với 07 công ty H18 thuê S. Trình chi 10.000.000 đồng/01 công ty cho dịch vụ lập, giao nhận chứng từ, bộ C3 đối với toàn bộ 08 công ty. T3 được hưởng lợi số tiền 140.000.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Văn S còn tham gia giúp sức cho Ngô Văn H trong việc bán trái phép hóa đơn của 08 Công ty nói trên và đi Ngân hàng rút tiền, chuyển tiền, giao nhận hóa đơn, hợp đồng kinh tế. Đối với 09 công ty còn lại, Ngô Văn H mua qua dịch vụ trên mạng từ một người tên C2, không xác định được nhân thân, lai lịch để lập công ty bán hóa đơn, nhận hóa đơn, chứng từ, bộ C3 với số tiền 20.000.000 đồng/01 công ty, tổng cộng 180.000.000 đồng. Sau đó, H thuê Lê Thị H3 làm kế toán để mua bán trái phép hóa đơn GTGT, Hoàn trả lương cho H3 5.000.000 đồng/01 tháng, trong thời gian 10 tháng, kể từ tháng 10/2022 đến tháng 7/2023, số tiền H3 được nhận 50.000.000 đồng; H thuê Ngô Thanh T1 và Nguyễn Văn T4 đi ngân hàng để rút tiền, chuyển tiền, giao hóa đơn, chứng từ của 08 công ty do Ngô Văn H quản lý, điều hành bán trái phép hóa đơn gồm: Công ty T28, Công ty K2, Công ty T22, Công ty K1, Công ty T23, Công ty V7, Công ty V8, Công ty X1. T1 và T4 biết rõ các công ty này không có hoạt động sản xuất, kinh doanh, được Ngô Văn Hoàn thành L4 để bán trái phép hóa đơn, T1 và T4 được Hoàn trả lương 10.000.000 đồng/01 tháng/01 người, trong thời gian 05 tháng, từ tháng 03/2023 đến tháng 07/2023. Số tiền T1 và T4 đã được nhận là 50.000.000 đồng/01 người.

Toàn bộ 17 công ty nêu trên, không có mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thực tế, nhưng Ngô Văn H đã sử dụng các công ty này và thuê Lê Thị H3 làm kế toán xuất bán trái phép 1.630 số hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 1.985.265.577.000 đồng (Một nghìn, chín trăm tám lăm tỷ, hai trăm sáu lăm triệu, năm trăm bảy bảy nghìn đồng). Trong đó, bán cho Nguyễn Văn Đ1 283 số hóa đơn, tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 1.117.680.753.000 đồng (Một nghìn, một trăm mười bảy tỷ, sáu trăm tám mươi triệu, bảy trăm năm ba nghìn đồng); 1.347 số hóa đơn còn lại Ngô Văn H bán qua mạng, không rõ danh tính người mua.

Để hợp thức hàng hóa đầu vào, cũng trong khoảng thời gian từ 06/2022 đến tháng 06/2023, Ngô Văn H đã mua hóa đơn trên mạng từ những người không rõ danh tính, H không xác định được số lượng hóa đơn đã mua, hồ sơ, tài liệu, hóa đơn, chứng từ của các công ty đã thất lạc, căn cứ tài liệu cơ quan Thuế cung cấp xác định H đã mua 418 số hóa đơn giá trị gia tăng, căn cứ tờ khai thuế GTGT cơ quan Thuế cung cấp xác định được số tiền ghi khống trên hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 1.928.173.800.000 đồng, với giá 01% tiền hàng hóa, hết số tiền 19.281.738.000 đồng.

* Như vậy, đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 06/2022 đến 06/2023, Ngô Văn H đã bán trái phép 1630 số hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 1.985.265.577.000 đồng (Một nghìn, chín trăm tám lăm tỷ, hai trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm bảy bảy nghìn đồng), với giá bán 1,07% tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế, thu được số tiền là 20.495.491.000 đồng (Hai mươi tỷ, bốn trăm chín lăm triệu, bốn trăm chín mốt nghìn đồng); đã xác định mua 418 số hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 1.928.173.800.000 đồng (Một nghìn, chín trăm hai tám tỷ, một trăm bảy ba triệu, tám trăm nghìn đồng), với giá mua là 01% tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế, hết số tiền là 19.281.738.000 đồng (Mười chín tỷ, hai trăm tám mốt triệu, bảy trăm ba tám nghìn đồng). Tổng cộng, Ngô Văn H mua, bán tổng số 2048 số hóa đơn GTGT, thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT tại các công ty trên số tiền 583.753.000 đồng.

Lê Thị H3 giúp sức cho Ngô Văn H mua bán trái phép 2048 số hóa đơn GTGT, được hưởng lợi số tiền 50.000.000 đồng.

Nguyễn Văn S và Trịnh Văn T3 đã giúp sức cho Ngô Văn H mua bán trái phép 739 số hoá đơn GTGT của 08 công ty gồm: Công ty T28, Công ty K2, Công ty T22, Công ty K1, Công ty T23, Công ty V7, Công ty V8, Công ty X1. Trong đó, T3 được hưởng lợi số tiền 140.000.000 đồng, S được hưởng lợi số tiền 80.000.000 đồng.

Ngô Thanh T1 và Nguyễn Văn T4 đã giúp sức cho Ngô Văn H mua bán trái phép 579 hóa đơn của 08 Công ty gồm: Công ty T28, Công ty K2, Công ty T22, Công ty K1, Công ty T23, Công ty V7, Công ty V8, Công ty X1 trong khoảng thời gian từ 01/3/2023 đến 31/7/2023, T1 và T4 mỗi người được hưởng lợi số tiền 50.000.000 đồng.

* Hành vi mua, bán trái phép hóa đơn của Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Thị D1:

Nguyễn Văn Đ1 và Ngô Văn H có mối quan hệ quen biết nhau, trong khoảng thời gian từ 06/2022 đến tháng 06/2023, Nguyễn Văn Đ1 đã môi giới mua hóa đơn của Ngô Văn H để bán cho các công ty của Nguyễn Thị Phương T5 và Lê Thị L điều hành, bao gồm:

  • - 114 (một trăm mười bốn) số hóa đơn xuất cho Công ty TNHH M3, địa chỉ tại cụm C, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương, do ông Dương Hồ P2 làm Giám đốc, nhưng toàn bộ công việc kinh doanh của công ty M3 được ông P2 giao cho vợ là Nguyễn Thị Phương T5 quản lý, điều hành, với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 116.766.171.000 đồng (Một trăm mười sáu tỷ, bảy trăm sáu mươi sáu triệu, một trăm bảy mốt nghìn đồng), cụ thể:
    • 16 số hóa đơn của Công ty TNHH Đ7, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 6.886.205.000 đồng.
    • 02 số hoá đơn của Công ty TNHH T22, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 3.571.457.000 đồng.
    • 07 số hoá đơn của Công ty TNHH T23, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 9.420.537.000 đồng.
    • 07 số hoá đơn của Công ty TNHH V7, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 4.892.763.000 đồng.
    • 10 số hoá đơn của Công ty TNHH K2, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 13.970.980.000 đồng.
    • 09 số hoá đơn của Công ty TNHH T26, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 6.951.665.800 đồng.
    • 24 số hoá đơn của Công ty TNHH T28, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 27.249.364.000 đồng.
    • 12 số hoá đơn của Công ty TNHH K1, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 17.307.849.000 đồng.
    • 13 số hoá đơn của Công ty TNHH V8, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 8.405.648.000.
    • 13 số hoá đơn của Công ty TNHH X1, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 17.968.500.000 đồng.
  • - 01 hóa đơn của Công ty Đ7 xuất cho Công ty cổ phần Đ10, địa chỉ tại cụm C, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương, với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 141.200.000 đồng, công ty do Nguyễn Thị Phương T5 quản lý, điều hành.
  • - 169 (một trăm sáu chín) số hoá đơn xuất cho các các công ty do Lê Thị L quản lý, điều hành, bao gồm: 31 số hóa đơn xuất cho Công ty TNHH (; 116 số hóa đơn xuất cho Công ty cổ phần K1; 22 số hóa đơn xuất cho Công ty TNHH T21. Tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.117.680.753.000 đồng, cụ thể:
    • Công ty TNHH T26: 34 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 211.722.458.000 đồng.
    • Công ty TNHH T27: 04 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 29.218.130.000 đồng.
    • Công ty TNHH Đ7: 32 số hoá đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền trước thuế là 183.549.906.000 đồng.
    • Công ty TNHH T28: 31 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 193.334.869.000 đồng.
    • Công ty TNHH MTV T29: 03 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 23.639.858.000 đồng .
    • Công ty TNHH T30: 02 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 16.183.476.000 đồng.
    • Công ty TNHH X1: 12 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 85.299.809.000 đồng.
    • Công ty TNHH K1: 09 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 69.141.729.000 đồng.
    • Công ty TNHH K2: 02 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 18.598.879.000 đồng.
    • Công ty TNHH T22: 02 số hóa đơn với tổng số tiền trước thuế là 12.773.597.760đ.
    • Công ty TNHH T23: 02 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 12.037.300.000 đồng.
    • Công ty TNHH V7: 06 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 27.210.431.000 đồng.
    • Công ty TNHH V8: 03 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 17.889.579.000 đồng.
    • Công ty T25: 01 số hoá đơn với tổng số tiền trước thuế là 6.551.308.000 đồng.

Ngoài ra, Nguyễn Văn Đ1 còn môi giới mua, bán 140 số hóa đơn, với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 254.590.348.785 đồng từ người tên “T14” không rõ danh tính, sau đó xuất bán cho Nguyễn Thị Phương T5 117 số hoá đơn và Lê Thị L 23 số hoá đơn, cụ thể:

  • 04 số hóa đơn của Công ty TNHH T27, địa chỉ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là bà Phan Thị D4.
  • 72 số hóa đơn của Công ty TNHH T31, địa chỉ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là bà Trịnh Thị D5.
  • 64 số hóa đơn của Công ty TNHH MTV X2, địa chỉ thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Giám đốc công ty là ông Nguyễn Duy H11.

Toàn bộ 423 số hóa đơn do Nguyễn Văn Đ1 môi giới mua, bán trái phép thì Đ1 thuê Nguyễn Thị D1 làm kế toán, liên hệ với người mua và người bán để nhận số liệu ghi khống trên hóa đơn, soạn thảo hợp đồng kinh tế. Dự được Đ1 trả lương 7.000.000 đồng/01 tháng, trong khoảng thời gian 10 tháng, từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023.

Về số tiền thu lời bất chính: Nguyễn Văn Đ1 đã môi giới mua, bán với Ngô Văn H 283 số hoá đơn và người tên T14 140 số hoá đơn. Tổng số hoá đơn Nguyễn Văn Đ1 môi giới mua, bán là 423 số hóa đơn, với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.372.271.102.000 đồng (Một nghìn, ba trăm bảy hai tỷ, hai trăm bảy mốt triệu, một trăm lẻ hai nghìn đồng), với chi phí mua hóa đơn là 1,07% tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế, tương ứng với số tiền 14.683.300.000 đồng (Mười bốn tỷ, sáu trăm tám mươi ba triệu, ba trăm nghìn đồng). Sau đó, bán các hóa đơn cho Nguyễn Thị Phương T5 và Lê Thị L với giá 1,11% tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế, tương ứng với số tiền 15.232.209.000 đồng (Mười lăm tỷ, hai trăm ba hai triệu, hai trăm lẻ chín nghìn đồng); trả lương cho Nguyễn Thị D1 hết 70.000.000 đồng, Nguyễn Văn Đ1 được hưởng lợi 478.909.000 đồng. Nguyễn Thị D1 được hưởng lợi 70.000.000 đồng.

* Hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Hoàng Cẩm A:

Công ty TNHH Đ6, địa chỉ tại Đ, xã N, huyện Ý, tỉnh Nam Định, người đại diện theo pháp luật là Hoàng Cẩm A. Trong khoảng thời gian từ khi thành lập đến tháng 5 năm 2022, Công ty TNHH Đ6 do bà Nguyễn Thị P1, nơi cư trú 32 Y, phường Y, quận T, Thành phố Hà Nội quản lý điều hành, hoạt động kinh doanh chính hàng hóa là Than, công ty có hoạt động kinh doanh thực tế, ngoài Hoàng Cẩm A thì bà P1 thuê Đàm Thị L1, trú tại P.118 HH1A L, phường H. quận H, Thành phố Hà Nội; Đoàn Thị S1, trú tại số nhà E T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Trần Mạnh H8, trú tại thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội làm nhân viên bán hàng, kế toán, đi ngân hàng và lái xe cho bà P1 và được trả lương hàng tháng. Trong thời gian này, Hoàng Cẩm A đã tự bán trái phép 27 số hóa đơn giá trị gia tăng giấy, cụ thể:

  • Xuất bán trái phép 03 hóa đơn GTGT giấy của Công ty Đ6 cho Công ty cổ phần V6, địa chỉ tại phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương, người đại diện ông Phạm Ngọc V3 với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 29.164.173.000 đồng.
  • Xuất bán trái phép 24 hóa đơn GTGT giấy của Công ty Đ6 cho Lê Thị L để xuất cho các công ty gồm: Công ty cổ phần V5 02 hoá đơn; Công ty K1 số hoá đơn; Công ty T21 01 số hóa đơn.

Đến tháng 05 năm 2022 thì Công ty TNHH Đ6 do Hoàng Cẩm A điều hành, hoạt động bán trái phép hóa đơn, Hoàng Cẩm A thuê Trần Mạnh H8, Đoàn Thị L5 và Đàm Thị S3 làm kế toán, đi ngân hàng và lái xe. Trong khoảng thời gian từ tháng 05 năm 2022 đến tháng 09 năm 2022 Hoàng Cẩm A đã xuất bán tổng cộng 90 số hóa đơn GTGT( điện tử). Trong đó, xuất cho Công ty L7 số hóa đơn; Công ty T21 số hóa đơn, ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 928.508.965.000 đồng. Các hóa đơn được Hoàng Cẩm A bán với giá 1,05% tổng giá trị dịch vụ hàng hóa trước thuế, tương đương với số tiền 9.749.344.000 đồng.

Trong số 90 hóa đơn điện tử bán trái phép, Hoàng Cẩm A đã bán cho Lê Thị Thùy D2 18 hóa đơn của Công ty TNHH Đ6 không có hàng hóa kèm theo, bao gồm:

  1. Công ty TNHH Đ4, địa chỉ tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, người đại diện ông Đỗ Văn T9 04 hóa đơn;
  2. Công ty TNHH T18, địa chỉ 339 đường M, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện ôngLường Đức Hùng 02 hóa đơn;
  3. Công ty TNHH T19, địa chỉ khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, người đại diện bà Hồ Thị Q1 01 hóa đơn;
  4. Công ty CP K3, địa chỉ số B, phố B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội, người đại diện ông Nguyễn Công S2 06 hóa đơn;
  5. Công ty CP Đ5, địa chỉ H T, phường H, quận C, Thành phố Đà Nẵng, người đại diện bà Bùi Thị D3 02 hóa đơn;
  6. Công ty cổ phần V6, địa chỉ Cụm C, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương, người đại diện ông Phạm Ngọc V3 03 hóa đơn.

Lê Thị Thùy D2 được hưởng lợi 15.000.000 đồng từ việc mua bán trái phép hóa đơn.

Để hợp thức hóa đầu vào, trong khoảng thời gian từ 05 năm 2022 đến tháng 09 năm 2022, Hoàng Cẩm A đã mua hóa đơn trên mạng từ những người không rõ danh tính, Hoàng Cẩm A không xác định được số lượng hóa đơn đã mua, căn cứ tờ khai thuế GTGT cơ quan Thuế cung cấp xác định được số tiền ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 928.995.929.000 đồng (Chín trăm hai tám tỷ, chín trăm chín lăm triệu, chín trăm hai chín nghìn đồng) với giá 01% tiền hàng hóa, hết số tiền 9.289.959.000 đồng (Chín tỷ, hai trăm tám chín triệu, chín trăm năm chín nghìn đồng). Tổng số hoá đơn GTGT điện tử và hóa đơn GTGT giấy Hoàng Cẩm A bán trái phép là 117 số hóa đơn.

Ngoài ra, Hoàng Cẩm A mua trái phép 40 số hóa đơn không có hàng hóa kèm theo của người tên “T14”, Nguyễn Văn T12, Vũ Hữu H12 không rõ danh tính, bao gồm:

  • 23 số hóa đơn của Công ty TNHH D6, địa chỉ tại thôn S, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 85.934.502.000 đồng.
  • 17 số của Công ty TNHH T24, địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 70.435.309.000 đồng.

Với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 156.369.812.000 đồng (Một trăm năm sáu tỷ, ba trăm sáu chín triệu, tám trăm mười hai nghìn đồng), với giá mua là 01% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ trên hóa đơn trước thuế, sau đó bán cho Lê Thị L để xuất cho Công ty TNHH (, Công ty TNHH T21, với giá bán là 1,05% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ trên hóa đơn trước thuế.

* Về xác định số tiền thu lời bất chính:

Lê Thị Thùy D2 mua bán trái phép 18 số hóa đơn GTGT, được hưởng lợi 15.000.000 đồng.

Hoàng Cẩm A mua trái phép 40 số hóa đơn (số hóa đơn mua đầu vào của Công ty Đ6; số hóa đơn mua của người tên T14, Nguyễn Văn T12 và Vũ Hữu H12), với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.085.365.741.000 đồng (Một nghìn, không trăm tám lăm tỷ, ba trăm sáu lăm triệu, bảy trăm bốn mốt nghìn đồng), với giá 01% tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế, trả chi phí mua hóa đơn hết số tiền 10.853.657.000 đồng (Mười tỷ, tám trăm năm ba triệu, sáu trăm năm bảy nghìn đồng); bán tổng cộng 117 số hóa đơn, với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.118.668.292.000 đồng (Một nghìn, một trăm mười tám tỷ, sáu trăm sáu tám triệu, hai trăm chín hai nghìn đồng), với giá 1,05% tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế, tương ứng với số tiền 11.746.017.000 đồng (Mười một tỷ, bảy trăm bốn sáu triệu, không trăm mười bảy nghìn đồng). Tổng số tiền thu về là 0,05% tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế, tương ứng với số tiền 892.359.000 đồng (T15 trăm chín hai triệu, ba trăm năm chín nghìn đồng). Trong đó, trả cho Lê Thị Thùy D2 15.000.000 đồng, trả lương cho Trần Mạnh H8, Đoàn Thị S1, Đàm Thị L1 mỗi tháng 15 triệu đồng/01 người/01 tháng, trong 05 tháng (từ tháng 05 đến tháng 9/2022) hết 225 triệu đồng. Hoàng Cẩm A được hưởng lợi 652.359.000 đồng (Sáu trăm năm hai triệu, ba trăm năm chín nghìn đồng).

* Hành vi mua, bán trái phép hóa đơn của Nguyễn Thị Phương T5, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị H6, Đỗ Thị V1:

Công ty TNHH M3, địa chỉ tại cụm C, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương do anh Dương Hồ P2 làm Giám đốc, nhưng toàn bộ công việc kinh doanh của Công ty M3 được anh P2 giao cho Nguyễn Thị Phương T5 trực tiếp quản lý, điều hành. Trong quá trình quản lý, điều hành Công ty TNHH M3, Nguyễn Thị Phương T5 đã mua hàng hóa là Than, V4 ... không có hóa đơn kèm theo, nên đã liên hệ mua trái phép hóa đơn của Nguyễn Văn Đ1 không có hàng hóa kèm theo, T5 thuê Nguyễn Thị P1 làm Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH M3 từ năm 2016 đến tháng 3 năm 2023, Nguyễn Thị P1 biết rõ việc Nguyễn Thị Phương T5 mua hàng hóa không có hóa đơn kèm theo, sau đó Nguyễn Thị P1 đã liên hệ với Nguyễn Văn Đ1 mua trái phép 177 số hóa đơn (trong tổng số 231 số hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo), Nguyễn Thị P1 là người ký hồ sơ, chứng từ, hợp đồng thanh toán tiền mua hóa đơn cho Nguyễn Văn Đ1. Ngoài ra T5 thuê Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị H6, Đỗ Thị V1 làm kế toán cho Công ty TNHH M3, tham gia giúp sức cho Nguyễn Thị Phương T5 mua trái phép 231 số hóa đơn xuất cho Công ty TNHH M3, cụ thể:

Để có số liệu mua hóa đơn thì Đỗ Thị V1 là người tổng hợp số liệu hàng hóa bán ra của Công ty TNHH M3, sau đó chuyển cho Nguyễn Thị D1, D1 xác định số liệu cần ghi trên hóa đơn mua vào để chuyển cho Ngô Thị H17 xuất hóa đơn, D1 nhận hóa đơn và hợp đồng kinh tế cho Nguyễn Thị H6 để H6 đi Ngân hàng chuyển tiền và rút tiền hợp thức hóa việc mua bán trái phép hóa đơn. Tổng cộng Nguyễn Thị Phương T5 đã mua của Nguyễn Văn Đ1 231 số hóa đơn, với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 202.943.728.000 đồng (Hai trăm lẻ hai tỷ, chín trăm bốn ba triệu, bảy trăm hai tám nghìn đồng), cụ thể:

  • - 16 số hóa đơn của Công ty TNHH Đ7, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 6.886.205.000 đồng.
  • - 02 số hoá đơn của Công ty TNHH T22, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 3.571.457.000.
  • - 07 số hoá đơn của Công ty TNHH T23, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 9.420.537.000 đồng.
  • - 07 số hoá đơn của Công ty TNHH V7, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 4.892.763.000 đồng.
  • - 10 số hoá đơn của Công ty TNHH K2, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 13.970.980.000 đồng.
  • - 09 số hoá đơn của Công ty TNHH T26, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 6.951.665.000 đồng.
  • - 24 số hoá đơn của Công ty TNHH T28, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 27.249.364.000 đồng.
  • - 12 số hoá đơn của Công ty TNHH K1, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 17.307.849.000 đồng.
  • - 13 số hoá đơn của Công ty TNHH V8, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 8.405.648.000 đồng.
  • - 13 số hoá đơn của Công ty TNHH X1, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 17.968.500.000 đồng.
  • - 46 số hoá đơn của Công ty TNHH MTV X2, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 30.632.194.000 đồng.
  • - 71 số hoá đơn của Công ty TNHH T31, với tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 54.686.562.000 đồng.
  • - 01 số hóa đơn của Công ty Đ7 xuất cho Công ty Cổ phần Đ10, với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 141.200.000 đồng, do Nguyễn Thị Phương T5 quản lý, điều hành.

* Về khoản thu lời bất chính:

Nguyễn Thị Phương T5 thuê Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị H6 và Đỗ Thị V1 làm việc tại Công ty TNHH M3, được trả lương hàng tháng đối với công việc chung của công ty, không được hưởng lợi thêm từ việc tham gia mua, bán trái phép hóa đơn, nên không thu lời bất chính.

* Đối với hành vi trốn thuế của Công ty TNHH (, ngày 03/4/2024 Cục thuế tỉnh T kết luận: Không đủ hồ sơ, tài liệu xác định số tiền trốn thuế của Công ty TNHH (.

Đối với Nguyễn Quang V2 và Nguyễn Thị Thu H7 là người cùng quản lý, điều hành các Công ty K1 và Công ty TNHH T21, do bản thân đứng tên giám đốc với Lê Thị L, nhưng V2 và H7 chỉ phụ trách mảng kho, bãi tập kết hàng hóa, giao dịch với khách mua hàng của 02 công ty và làm việc với cơ quan quản lý Thuế, cả hai đều không biết và không tham gia vào việc mua trái phép hóa đơn của Lê Thị L và Nguyễn Thị H5, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Dương Hồ P2 là người đứng tên giám đốc Công ty TNHH M3, nhưng toàn bộ công việc kinh doanh của Công ty TNHH M3 được anh P2 giao cho vợ là Nguyễn Thị Phương T5 quản lý, điều hành, P2 không biết và không tham gia vào việc mua, bán trái phép hoá đơn của Nguyễn Thị Phương T5, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với những người đứng tên giám đốc các công ty do Ngô Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Hoàng Cẩm A điều hành, môi giới bán hóa đơn bao gồm: Nguyễn Mạnh H13, Nghiêm Quang H14, Nguyễn Văn S, Hà Văn N2, Phùng Văn M1, Lương Văn H15, Trần Thị Kim C1, Đỗ Thành L3, Trương Văn L2, Nguyễn Trọng T11, Nguyễn Tuấn P3, Vũ Văn H10, Bùi Minh T10, Nguyễn Thị Thu H16, Trần Quỳnh A1, Nguyễn Văn Q2, Vi Văn T13, Đỗ Văn M2, Phan Thị D4, Trịnh Thị D5, Nguyễn Duy H11, Vũ Hữu H12 và Nguyễn Văn T12. Quá trình điều tra xác định những người này không biết bản thân đứng tên người đại diện theo pháp luật của các công ty, không tham gia vào hoạt động của các công ty, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với các đơn vị mua trái phép hóa đơn bao gồm: Công ty TNHH M3, Công ty TNHH T21, Công ty TNHH (, Công ty cổ phần K1, Công ty Cổ phần Đ10, thì đối với các đơn vị còn lại có giao dịch kinh tế, sử dụng hóa đơn của các công ty do Ngô Văn H, Hoàng Cẩm A, Nguyễn Văn Đ1 quản lý, điều hành, môi giới thì đại diện các doanh nghiệp đều trình bày có hoạt động mua, bán hàng hóa, dịch vụ thực tế và được bên bán cung cấp hàng hóa, dịch vụ kèm theo hóa đơn, Cơ quan điều tra chưa có tài liệu xác định các đơn vị này có vi phạm hay không, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Mạnh H8, Đàm Thị L1, Đoàn Thị S1 được Hoàng Cẩm A thuê làm kế toán, lái xe, đi Ngân hàng rút tiền, chuyển tiền nhưng đều không biết việc Hoàng Cẩm A bán trái phép hóa đơn của Công ty TNHH Đ6, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị P1, địa chỉ tại số C Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội là người quản lý, điều hành Công ty TNHH Đ6, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022, quá trình điều tra xác định bà Nguyễn Thị P1 có thuê kho bãi, có nhân công làm việc, có hoạt động kinh doanh thực tế, hiện tại chưa có tài liệu thể hiện việc vi phạm pháp luật của bà Nguyễn Thị P1, nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý.

* Đối với số tiền thu lời bất chính các bị cáo tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra và số vật chứng còn lại của vụ án, gồm:

  1. Lê Thị Thùy D2 tự nguyện giao nộp số tiền 15.000.000 đồng;
  2. Ngô Văn H tự nguyện giao nộp số tiền 400.000.000 đồng;
  3. Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp số tiền 80.000.000 đồng;
  4. Ngô Thanh T1 tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng;
  5. Nguyễn Văn T4 tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng;
  6. Trịnh Văn Trình tự N3 giao nộp số tiền 140.000.000 đồng;
  7. Lê Thị H3 tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo giao nộp là 785.000.000 đồng.

  • - 01 điện thoại Redmi Note 11 Pro màu đen, thu giữ của Nguyễn Thị H5;
  • - 01 điện thoại Iphone XS màu vàng, thu giữ của Ngô Thanh T1;
  • - 01 con dấu của Công ty TNHH Đ6;
  • - 01 dấu tên Hoàng Cẩm A; 01 dấu tên Trần Văn T16.

Số vật chứng và số tiền trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá để chờ xử lý theo quy định.

* Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo Ngô Văn H tự nguyện nộp tiếp số tiền thu lời bất chính 183.753.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn Đ1 tự nguyện giao nộp số tiền thu lời bất chính 200.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị D1 tự nguyện giao nộp số tiền thu lời bất chính 70.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Tại bản án HSST số 287/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ điểm d, đ, g khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn H.

Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị H3 và Ngô Thanh T1.

Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Cẩm A.

Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Văn H, Hoàng Cẩm A, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1, phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước”.

* Xử phạt:

  1. Bị cáo Ngô Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2021/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 35 (ba mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 10/8/2023 đến ngày 01/11/2023).
  2. Bị cáo Lê Thị H3 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  3. Bị cáo Ngô Thanh T1 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 07/8/2023 đến ngày 27/8/2023).
  4. Bị cáo Hoàng Cẩm A 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 31/8/2023.

* Về hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Ngô Văn H 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); Lê Thị H3 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); Ngô Thanh T1 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng); Hoàng Cẩm A 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

* Về số tiền thu lợi bất chính: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 583.753.000đ (Năm trăm tám ba triệu, bảy trăm năm ba nghìn đồng) của bị cáo Ngô Văn H thu lợi bất chính từ việc mua, bán trái phép hóa đơn, được trừ vào số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) bị cáo đã tự nguyện giao nộp, theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản số: 152/2024/THA, vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 14 tháng 5 năm 2024 và số tiền 183.753.000đ (Một trăm tám ba triệu, bảy trăm năm ba nghìn đồng) bị cáo đã tự nguyện giao nộp, theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/24, số 0000804 ngày 30/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận bị cáo H đã nộp đủ.

Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 652.359.000đ (Sáu trăm năm hai triệu, ba trăm năm chín nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Cẩm A thu lợi bất chính từ việc mua, bán trái phép hóa đơn.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) của bị cáo Lê Thị H3; 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) của bị cáo Ngô Thanh T1 thu lợi bất chính từ việc mua, bán trái phép hóa đơn, các bị cáo đã tự nguyện giao nộp theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 152/2024/THA ngày 14/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận các bị cáo Lê Thị H3, Ngô Thanh T1 đã nộp đủ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo khác, tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 17/8/2024 bị cáo Hoàng Cẩm A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Cùng ngày 19/8/2024, bị cáo Ngô Văn H, Lê Thị H3, Trịnh Văn T3 và Ngô Thanh T1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 21/10/2024, bị cáo Trịnh Văn T3 đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trịnh Văn T3.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Ngô Văn H, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1, Hoàng Cẩm A giữ nguyên nội dung kháng cáo.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1 về phần xin được giảm nhẹ hình phạt. Sửa bản án HSST số 287/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo hướng: áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS, giảm cho bị cáo Ngô Văn H và Lê Thị H3 từ 01 đến 03 tháng tù, bị cáo Ngô Thanh T1 từ 01 đến 02 tháng tù.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Cẩm A về phần hình phạt. Sửa bản án HSST số 287/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo hướng: giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, ấn định thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm theo quy định tại Điều 336, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận: trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023 Ngô Văn H đã thành lập 17 công ty, không có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế với mục đích mua, bán hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo để thu lời bất chính. Tổng cộng Ngô Văn H đã mua, bán trái phép 2048 số hóa đơn, thu lời bất chính tổng số tiền là 583.753.000₫.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội của Ngô Văn H thì Nguyễn Văn S, Trịnh Văn T3, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1, Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn T4 đã giúp sức cho Ngô Văn H mua, bán trái phép hóa đơn để thu lời bất chính, cụ thể:

  • Trịnh Văn T3 tham gia mua bán trái phép 739 số hóa đơn, thu lời bất chính số tiền 140.000.000đ; Lê Thị H3 tham gia mua bán trái phép 2048 số hóa đơn, thu lời bất chính số tiền 50.000.000đ; Ngô Thanh T1 tham gia mua bán trái phép 579 số hóa đơn, thu lời bất chính số tiền 50.000.000đ.
  • Hoàng Cẩm A đã trực tiếp điều hành quản lý 01 công ty không có hoạt động sản xuất kinh doanh để bán trái phép hóa đơn và môi giới bán trái phép hóa đơn của 02 công ty. Tổng cộng, Hoàng Cẩm A đã mua, bán trái phép 157 số hóa đơn, thu lời bất chính số tiền 652.359.000₫.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung của bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định, chính sách quản lý kinh tế trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm minh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, tuyên xử các bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi án sơ thẩm xử, các bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm.

[2.1] Xét đơn kháng cáo ngày 19/8/2024 của bị cáo Ngô Văn H xin giảm nhẹ hình phạt:

HĐXX xét thấy, Ngô Văn H là người đứng ra thành lập các công ty tại tỉnh Bắc Giang, nhưng không có hoạt động sản xuất, kinh doanh, lợi dụng việc thành lập Công ty theo Luật Doanh nghiệp để hoạt động mua bán hóa đơn giá trị gia tăng. H thuê Lê Thị H3 làm kế toán xuất bán trái phép 1.630 số hóa đơn ghi khống số tiền chưa thuế là 1.985.265.577.000đ, trong đó bán cho Nguyễn Văn Đ1 283 số hóa đơn với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 1.117.680.753.000đ, còn lại 1.347 số hóa đơn H bán qua mạng cho những người không rõ danh tính. Căn cứ vào tài liệu của cơ quan thuế cung cấp, xác định Ngô Văn H đã mua 418 số hóa đơn giá trị gia tăng với số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.928.173.800.000đ với giá 01% tiền hàng hóa hết số tiền 19.281.738.000đ.

Từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2023, Ngô Văn H đã mua bán trái phép hóa đơn trên mạng từ những người không rõ danh tính 1.630 số hóa đơn giá trị gia tăng ghi khống số tiền hàng hóa chưa thuế 1.985.262.577.000đ, với giá bán 1,07% trên số tiền hàng hóa chưa thuế, thu được 20.495.491.000đ; đã xác định được mua 418 số hóa đơn giá trị gia tăng ghi khống số tiền chưa thuế 1.928.173.800.000đ, với giá 01% tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế, hết số tiền 19.281.730.000đ.

Tổng cộng, bị cáo đã mua bán 2.048 số hóa đơn giá trị gia tăng với các Công ty khác trên địa bàn các tỉnh, thu lợi bất chính số tiền 583.753.000đ.

Bị cáo đang có 2 tiền án: Ngày 19/9/2013, bị TAND thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2015, và đã nộp xong án phí (chưa chấp hành xong tiền phạt 50.000.000đ và khoản thu lợi bất chính 3.814.670.897đ). Đến ngày 15/7/2021, bị cáo tiếp tục bị TAND thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” (hiện bị cáo đang được hoãn chấp hành hình phạt tù theo Quyết định số 38/2022/THAHS-QĐ ngày 18/11/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng). Nên lần này bị cáo phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành của tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách nhà nước” quy định tại điểm d, đ, g khoản 2 Điều 203 BLHS.

Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, tự nguyện giao nộp số tiền 583.753.000đ thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm d, đ, g khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 38 của BLHS; xử phạt bị cáo 20 tháng tù, tổng hợp với 15 tháng tù của Bản án HSST số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 35 tháng tù; phạt bổ sung bị cáo 30.000.000đ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình “Giấy khen” của Chủ tịch UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vì đã có thành tích trong công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; có mẹ vợ là Nguyễn Thị L6 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[2.2]. Xét đơn kháng cáo ngày 19/8/2024 của bị cáo Lê Thị H3 xin giảm nhẹ hình phạt.

HĐXX xét thấy: Bị cáo Lê Thị H3 là người giúp sức cho Ngô Văn H trong việc xuất bán trái phép 1.630 số hóa đơn ghi khống số tiền chưa thuế là 1.985.265.577.000đ, trong đó bán cho Nguyễn Văn Đ1 283 số hóa đơn với tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 1.117.680.753.000đ. Ngoài ra, bị cáo đã hoàn thiện các thủ tục mua, bán trái phép 2.048 số hóa đơn giá trị gia tăng với các Công ty khác, như Công ty TNHH (, Công ty cổ phần K1, công ty TNHH T21 và công ty Đ10; được hưởng lợi số tiền 50.000.000đ, nên hành vi của bị cáo Lê Thị Hòa đồng P4 với Ngô Văn H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS, với vai trò là người giúp sức tích cực.

Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; khai báo thành khẩn; tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000đ thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả; bị cáo có bố là thương binh loại A, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo đang có tiền án: Tại Bản án HSST số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng xử phạt 200.000.000đ về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước”, thi hành xong bản án ngày 12/4/2022. Đến tháng 6/2022, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội giúp sức cho Ngô Văn H, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của BLHS; xử phạt bị cáo 16 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo 30.000.000đ, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình “Giấy khen” của Chủ tịch UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vì đã có thành tích trong phong trào đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn xã A. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[2.3] Xét đơn kháng cáo ngày 19/8/2024 của bị cáo Ngô Thanh T1 xin giảm nhẹ hình phạt.

HĐXX xét thấy: Bị cáo Ngô Thanh T1 và Nguyễn Văn T4 giúp sức cho Ngô Văn H thực hiện hành vi mua bán trái phép 597 hóa đơn của 08 công ty: Công ty T28, Công ty K2, Công ty T35, Công ty K1, Công ty T23, Công ty V7, Công ty V8, Công ty X1, trong khoảng thời gian từ 01/3/2023 đến ngày 31/7/2023, để được hưởng lợi số tiền 50.000.000đ, nên hành vi của bị cáo Ngô Thanh T1 đồng phạm với Ngô Văn H, về tội “ Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS, với vai trò là người giúp sức. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; khai báo thành khẩn; tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000đ tiền thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo đang có 01 tiền án: Ngày 15/7/2021 bị TAND thành phố Hải Phòng xử phạt 220.000.000đ về tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước”, đã thi hành xong bản án ngày 10/01/2023. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 70 BLHS, bị cáo chưa được xóa án tích và phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của BLHS; xử phạt bị cáo 14 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000₫ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình “Giấy khen” của Chủ tịch UBND xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vì đã có thành tích trong phong trào đảm bảo an ninh trật tự cơ sở. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[2.4] Xét đơn kháng cáo ngày 19/8/2024 của bị cáo Hoàng Cẩm A xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo:

HĐXX xét thấy, bị cáo Hoàng Cẩm A trực tiếp quản lý điều hành Công ty Đ6 tại Đội 2 N, huyện Ý, tỉnh Nam Định, hoạt động mua bán than. Trong quá trình bị cáo đã mua đầu vào 40 số hóa đơn của người có tên T14, Nguyễn Văn T12 và Vũ Hữu H12 với số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế 1.085.365.741.000đ, với giá 01% với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 10.863.657.000đ. Bán ra 177 số hóa đơn, với tổng số tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế là 1.118.668.292.000đ, với giá 1,05% tổng tiền ghi khống trên hóa đơn trước thuế, tương ứng số tiền 11.746.017.000 đ, để hưởng lợi 0,05% tương ứng với số tiền 892.359.000đ. Quá trình Cẩm A xuất bán 18 hóa đơn cho Lê Thùy D2 để Lê Thùy D2 bán lại cho cho các đối tượng khác tại các ngân hàng, khi họ chờ rút tiền và được Hoàng Cẩm A trả 15.000.000đ; ngoài ra Cẩm A còn trả tiền lương hàng tháng cho Trần Mạnh H8, Đoàn Thị S1, Đàm Thị L1 mỗi tháng 15.000.000đ (từ tháng 5 đến tháng 9/2022 hết số tiền 225.000.000đ), còn lại Hoàng Cẩm A hưởng lợi số tiền 652.359.000đ. Hành vi mua bán trái phép 177 số hóa đơn giá trị gia tăng, thu lợi bất chính số tiền 652.359.000₫ của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước” quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS.

Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; khai báo thành khẩn; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm bị cáo chưa giao nộp khoản tiền thu lợi bất chính 652.359.000đ để khắc phục hậu quả. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Cẩm A 14 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000đ, truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 652.359.000đ thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn của bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo Hoàng Cẩm A đã tự nguyện nộp phần lớn số tiền thu lợi bất chính (500.000.000₫), nộp tiền phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; ăn năn hối hận với việc làm của mình; đã nhận thức được việc làm của mình là sai, đã tự nguyện nộp phần lớn số tiền thu lời bất chính, nộp tiền phạt bổ sung, tiền án phí sơ thẩm; tham gia với vai trò là đồng phạm trong vụ án. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; ngoài lần vi phạm này không có vi phạm gì khác, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Vì vậy, HĐXX xét thấy có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Công nhận bị cáo Hoàng Cẩm A đã nộp 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính và đã nộp đủ tiền phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm.

Tiếp tục truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 152.359.000đ (một trăm năm hai triệu, ba trăm năm chín nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Cẩm A thu lợi bất chính từ việc mua, bán trái phép hóa đơn.

[3] Về án phí: các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn H, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1 và 01 phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Cẩm A.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với các bị cáo.

Áp dụng: điểm d, đ, g khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn H.

Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị H3 và Ngô Thanh T1.

Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Cẩm A.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn H, Lê Thị H3, Ngô Thanh T1, Hoàng Cẩm A phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Ngô Văn H 17 (mười bảy) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 10/8/2023 đến ngày 01/11/2023).
  2. Bị cáo Lê Thị H3 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Bị cáo Ngô Thanh T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 07/8/2023 đến ngày 27/8/2023).
  4. Bị cáo Hoàng Cẩm A 14 (mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Cẩm A cho UBND phường T, quận N, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.

* Công nhận bị cáo Hoàng Cẩm A đã nộp 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) tiền thu lời bất chính, 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tiền phạt bổ sung và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án HSST số 287/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (theo biên lai thu tiền số 0000854 ngày 09/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Bị cáo Hoàng Cẩm A đã nộp đủ tiền phạt bổ sung và tiền án phí HSST.

Tiếp tục truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 152.359.000đ (một trăm năm hai triệu, ba trăm năm chín nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Cẩm A thu lợi bất chính từ việc mua, bán trái phép hóa đơn.

Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - VKS,TA,THAHS TP Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT - CA TP Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP Thanh Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Tổ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách nhà nước"

  • Số bản án: 234/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn H + ĐP "Mua bán trái phép hóa đơn thu, nộp ngân sách Nhà nước”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger