Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HSST

Ngày: 30/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Rồi.
  2. Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2024/HSST, ngày 14 tháng 08 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2024/QĐXXST-HS ngày 19/08/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Văn T, sinh năm 1995, giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lại Văn L và bà Trương Thị T1; Anh chị em ruột có 02 người kể cả bị cáo, bị cáo có vợ tên Trần Thị Ngọc H, có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/5/2024 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/5/2024, Lại Văn T gọi điện thoại đến số H gặp một nam thanh niên (không rõ lại lịch) hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì người này đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực xã T, huyện C. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy biển số 59P1-642.37 đến điểm hẹn gặp người thanh niên, T đưa cho người thanh niên 400.000 đồng, người thanh niên đưa lại cho T 01 gói ma túy đá. T mang gói ma túy đá về nhà lấy 01 ít ra sử dụng, số ma túy còn lại T cất dấu trong bao thuốc lá hiệu Jet rồi bỏ vào túi áo khoác. Đến 13 giờ 10 phút ngày 20/5/2024, T mặc áo khoác có gói ma túy đi chơi. Đến 13 giờ 30 phút khi T đang dừng xe gắn máy biển số 59P1-642.37 trước nhà trọ tên 205 thuộc ấp F, xã H, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang vào lúc 13 giờ 40 phút cùng ngày.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Lại Văn T tại địa chỉ ấp B, xã N, huyện C, TP. không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 6175/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H xác định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1379 g loại Methamphetamine. Tại cơ quan điều tra bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Tại bản cáo trạng số: 229/CT-VKS.CC ngày 14/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lại Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, bị cáo Lại Văn T thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 229/CT-VKS.CC ngày 14/08/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lại Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau: Tình tiết tăng nặng: Không có. Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lại Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị tuyên bố:- Bị cáo Lại Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lại Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 1881/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và giám định viên và 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet. + Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng có số IMEI: 359215007043157 và 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Exciter 135 màu xanh biển số 59P1-64237 có số khung: RLCE55P10DY202696, số máy:55P1-202712. Đối với người thanh niên bán ma túy cho T (hiện chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện C thống nhất. Bị cáo Lại Văn T không tham gia tranh luận. Bị cáo Lại Văn T nói lời nói sau cùng:

Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Lại Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố, cụ thể:

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20 tháng 05 năm 2024 tại đường giao thông nông thôn trước nhà trọ tên 205 thuộc ấp F, xã H, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, Lại Văn T đang tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,1379 gam loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bằng những hành vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lại Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lại Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 1881/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và giám định viên và 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet, là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng có số IMEI: 359215007043157 và 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Exciter 135 màu xanh biển số 59P1-64237 có số khung: RLCE55P10DY202696, số máy:55P1-202712 là của bị cáo, bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho T (hiện chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ chi thống nhất, Hội đồng xét xử thấy xử lý trên là phù hợp nên không xét.

Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 lẽ ra cần phải phạt bị cáo T một số tiền để nộp vào Ngân sách Nhà nước, tuy nhiên xét thấy bị cáo T không có nghề nghiệp, mua chất ma túy để sử dụng không có thu lợi bất chính nên không phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Bị cáo cáo Lại Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lại Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lại Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 1881/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên và 01 gói thuốc lá hiệu Jet.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng có số IMEI: 359215007043157 và 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Exciter 135 màu xanh biển số 59P1-64237 có số khung: RLCE55P10DY202696, số máy:55P1-202712.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Lại Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Phòng PC 27;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 233/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Lại Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger