Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 233/2023/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên

Bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố

Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên

toà: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 228/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2023/QÐST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Thị B, sinh năm 1983. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Cao Lan. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 01/12. Bố: Hoàng Văn T (đã chết); Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1955; Chồng: Hoàng Văn T1, sinh năm 1984; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Lăng Văn Ú, sinh năm 1953. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10. Bố: Lăng Sỹ H (đã chết); Mẹ: Chu Thị S (đã chết); Vợ: Lục Thị M, sinh năm 1950 (đã chết); Vợ: Đỗ Thị H1, sinh năm: 1961; Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1975 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 1985; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số nhà B, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có đơn xin vắng mặt)
  • Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Đàm Văn T3, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
  • Bà Trần Thị T4, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  • Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  • Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Cửa hàng V, số D đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
  • Bà Trương Thị Q, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
  • Chị Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số nhà A, đường A, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị B:

  • Ông Hoàng Trọng N1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Lăng Văn Ú:

  • Bà Nguyễn Thị Như Q1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi của Hoàng Thị B lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị T2.

Khoảng tháng 3/2023, Hoàng Thị B, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang đến thành phố B chơi và thường xuyên thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ V1 ở số A, đường T, phường T, thành phố B do chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1976 làm chủ. Trong thời gian ở tại đây, B quen biết bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956, trú tại số nhà B, đường T, phường T, thành phố B - là người được chị A thuê dọn dẹp tại nhà nghỉ. Từ tháng 4/2023 đến ngày 16/5/2023, B đã 05 lần đưa ra thông tin gian dối để bà T2 tin tưởng cho vay tiền, tài sản và bị B chiếm đoạt, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 4/2023, B đi từ nhà nghỉ V1 3 sang nhà bà T2 ở số nhà B, đường T chơi và nghỉ trưa tại đây. Khi chuẩn bị ra về, B nói dối bà T2 là chuẩn bị về quê, chị gái B nhờ mua hộ máy bơm để phun thuốc sâu và hỏi vay bà T2 5.000.000 đồng. Bà T2 tin tưởng nên đưa cho B vay 2.500.000 đồng. B cầm tiền và bảo bà T2 cho vay thêm để đủ tiền mua máy bơm. Bà T2 cho B vay thêm 2.500.000 đồng. Lúc này, B nhìn thấy trên tay bà T2 vẫn còn cầm tiền nên bảo bà T2 cho vay thêm 1.000.000 đồng nữa. Bà T2 đồng ý và đưa cho B vay thêm 1.000.000 đồng. Tổng số tiền B chiếm đoạt của bà T2 là 6.000.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 2: Khoảng ngày 06/4/2023, B đến nhà bà T2 chơi. B biết bà T2 đang muốn bán ngôi nhà ở số B, đường T, phường T với giá 3,2 tỷ đồng. B nói dối là muốn mua ngôi nhà này của bà T2 nhưng không có tiền và B có đất ở S nhưng vẫn là đất vườn, phải mất tiền chuyển đổi thành đất ở thì mới bán được. B bảo bà T2 cho vay 50.000.000 đồng để làm thủ tục chuyển sổ đất vườn thành đất ở để bán rồi sẽ mua ngôi nhà của bà T2. Bà T2 nói không có 50.000.000 đồng mà chỉ có 05 chỉ vàng SJC 9999 Bình vay thì bà cho vay, thì B đồng ý. Bà T2 đưa cho B 05 chỉ vàng SJC 9999 gồm 02 chiếc nhẫn mỗi chiếc có khối lượng 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn khối lượng 01 chỉ. B cầm số vàng trên rồi đến cửa hàng V tại số D, đường L, phường H, thành phố B gặp chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989 là nhân viên cửa hàng và bán được 26.700.000 đồng đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐ ngày 04/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 05 chỉ vàng SJC 9999 (gồm 02 chiếc nhẫn vàng SJC 9999 mỗi chiếc có khối lượng 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn vàng SJC 9999 khối lượng 01 chỉ) trị giá tại thời điểm ngày 06/4/2023 và ngày 07/4/2023 là 05 chỉ x 5.560.000 đồng/1 chỉ = 27.800.000 đồng.

Lần thứ 3: Khoảng 4 đến 5 ngày sau, B đến thành phố B thuê phòng nhà nghỉ V1 và gặp bà T2 để lừa đảo chiếm đoạt tiền. Bà T2 hỏi B về việc làm thủ tục giấy tờ đất ở S thì B nói dối đã về làm sổ nhưng vẫn bị thiếu tiền và nói còn thiếu 50.000.000 đồng. B bảo bà T2 cho vay 50.000.000 đồng để làm thủ tục giấy tờ đất, sau khi bán đất ở S sẽ mua nhà của bà T2. Bà T2 tin tưởng và bảo để bà đi vay tiền rồi sẽ cho B vay. Sau đó, bà T2 nói với B là chỉ vay được 20.000.000 đồng và đưa cho B số tiền này. Ngày hôm sau, B bắt xe buýt về nhà ở S và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 4: Ngày 08/5/2023, B đến thành phố B thuê phòng của nhà nghỉ V1 3 mục đích để gặp bà T2 tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tiền. B nói dối là thửa đất của B ở S đã làm thủ tục xong, cán bộ địa chính hẹn mấy hôm nữa thì lấy sổ. Ngoài ra, B còn có nhà đất ở khu B, phường T, thành phố B mua lại của cô chú nhưng chưa sang tên sổ bìa đỏ, B muốn sang tên chính chủ thửa đất này rồi đem bán lấy tiền. Bà T2 hỏi thì B nói hết khoảng 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng và bảo bà T2 cho vay tiền để làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T2 tin tưởng nên nói với B sẽ đi vay giúp. Sau đó, B sang nhà bà T2 và được bà T2 đưa cho 30.000.000 đồng. Khoảng hai ngày sau, B bắt xe buýt về nhà ở S. Số tiền chiếm đoạt được, B đã trả nợ cho em dâu là Hứa Thị A1, sinh năm 1995 ở cùng thôn 5.000.000 đồng; trả cho anh Dương Văn S1, sinh năm 2000 ở thôn T, xã T, huyện L 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại, B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 5: Khoảng ngày 14/5/2023, B đến thành phố B thuê phòng nhà nghỉ V1 để tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T2. B bảo bà T2 cho vay 45.000.000 đồng để lấy sổ đỏ thửa đất ở khu B, phường T để bán. Bà T2 đã gọi điện thoại cho con gái là Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1976 ở số nhà A, đường A, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh kể lại sự việc và bảo chị T5 cho vay 45.000.000 đồng để cho B vay thì chị T5 đồng ý. Ngày 16/5/2023, bà T2 báo cho B biết việc đã hỏi vay được tiền và gọi điện thoại cho chị T5 để B nói chuyện. Qua điện thoại, B nói với chị T5 là đang cần tiền để lấy sổ bìa đỏ nhà đất của B ở khu B, phường T. Chị T5 nói chỉ có 43.000.000 đồng. B đọc cho chị T5 số tài khoản 25092053600104 của B mở tại Ngân hàng A2. Chị T5 đã chuyển khoản 43.000.000 đồng từ số tài khoản 19037287386011 mở tại ngân hàng T8 vào tài khoản của B. Sau đó, B thông báo cho bà T2 biết đã nhận được số tiền trên do chị T5 chuyển khoản và hứa hẹn đến tối cùng ngày sẽ trả tiền.

Buổi chiều cùng ngày, B đi đến cửa hàng V gặp chị Nguyễn Thị N là nhân viên và nhờ chuyển khoản để lấy tiền mặt. Chị N bảo B chuyển vào số tài khoản 43110000185139 mở tại ngân hàng B1 của chị Dương Thu M1, sinh năm 1987, trú tại số nhà A, đường C, phường T, thành phố B là nhân viên cửa hàng. B chuyển khoản 42.000.000 đồng từ tài khoản của B vào tài khoản của chị M1 và được chị N đưa cho 42.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, B và chị Nguyễn Thị A – chủ nhà nghỉ V1 3 cùng nhau đi mua quần áo. B trả tiền mua quần áo của B hết 1.500.000 đồng và trả giúp chị A tiền mua quần áo hết 1.500.000 đồng. Cùng ngày, B trả lãi tiền vay ngân hàng Chính sách xã hội huyện S hết 440.000 đồng.

Sáng ngày 17/5/2023, bà T2 gọi điện cho B yêu cầu trả tiền. B đi từ S đến gặp bà T2 tại nhà nghỉ V1 3 và nói dối là cán bộ địa chính hẹn mấy ngày nữa trả sổ đỏ. Bà T2 yêu cầu đưa về nhà B thu xếp tiền trả. Chiều ngày 17/5/2023, B đưa bà T2 về nhà B ở thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. B gọi mẹ nuôi là bà Trương Thị Q, sinh năm 1958 ở cùng thôn sang nhà chơi. Sau đó, B lấy 15.000.000 đồng trong số tiền mặt hôm trước trả cho bà T2 nhưng nói dối số tiền này là B vay của bà Q để trả. Sáng ngày 18/5/2023, bà T2 yêu cầu B viết giấy vay tiền. B và bà T2 tính tổng số tiền B vay là 87.000.000 đồng. B bảo không biết chữ và nhờ bà Q viết hộ giấy thể hiện B vay bà T2 87.000.000 đồng và B ký xác nhận ở dưới mục người vay rồi đưa tờ giấy này cho bà T2 giữ. Sau đó, bà T2 bắt xe buýt về thành phố B. Ngày 23/5/2023, bà T2 có đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 01 giấy vay tiền. Ngày 24/5/2023, B đầu thú và khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị B, Trương Thị Q trên giấy vay tiền do bà Nguyễn Thị T2 giao nộp. Kết luận giám định số 1727/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký (dạng chữ viết) có nội dung “B – Hoàng Thị B” dưới mục “Người vay” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Thị B trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra; Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ ký (dạng chữ viết) có nội dung “B – Hoàng Thị B” dưới mục “Người vay”) so với chữ viết của Trương Thị Q trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra”.

Kết quả xác minh tại Tổ dân phố số E, phường T và UBND phường T xác định Hoàng Thị B không sở hữu thửa đất nào tại tổ dân phố số E, phường T. Xác minh tại UBND xã Y, huyện S xác định chưa nhận được đề nghị của B về việc chuyển mục đích sử dụng mảnh đất B đang ở. Xác minh tại Ngân hàng N2 Chi nhánh B2 xác định số tài khoản 25092053600104 của Hoàng Thị B mở tại Ngân hàng A2 chi nhánh S2. Ngày 15/5/2023 có tài khoản của chị T5 chuyển khoản đến 43.000.000 đồng.

2. Hành vi của Hoàng Thị BLăng Văn Ú lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 98L1 – 197.58 của chị Hoàng Thị Đ.

Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1986, trú tại thôn K, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang là em gái ruột của Hoàng Thị B. Buổi chiều ngày 20/3/2023, B đến Trung tâm y tế huyện S thăm chị Đ đang điều trị bệnh tại đó. Khoảng 17 giờ cùng ngày, chị Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 98L1 – 197.58 chở B từ Trung tâm y tế huyện S về nhà B ở thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. B đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị Đ đem cầm cố lấy tiền nên mời chị Đ ở lại ăn cơm thì chị Đ đồng ý. Do B không biết lái xe mô tô nên B nảy sinh ý định nhờ Lăng Văn Ú, sinh năm 1953 là người quen trú tại thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang giúp B chiếm đoạt chiếc xe máy của chị Đ. B sử dụng số điện thoại 0866.922.xxx gọi đến số điện thoại 0377.154.xxx của Lăng Văn Ú thì biết Ú đang đạp xe đi thể dục. B bảo Ú đi đến nhà B nhưng để xe đạp ở ngoài đường và đi bộ đến nhà B và nói dối là hỏi mượn xe để đi lấy tiền thuốc nam. Do trước đó, B đã nhờ Ú tìm người có xe máy để B hỏi mượn rồi sẽ đem đi cắm lấy tiền nhưng chưa thực hiện được nên Ú hiểu là B đã tìm được xe để đi cắm nên đồng ý thực hiện theo cách mà B đã chỉ dẫn. Khi Lăng Văn Ú đi đến nhà, B giả vờ nói với Ú: “Chú lấy tiền thuốc chưa” thì Ú nói “Có xe đâu mà đi” như lời B dặn trước đó. B bảo chị Đ cho Ú mượn xe máy để Ú đi đến xã A lấy tiền thuốc nam một lúc rồi về. Chị Đ đồng ý cho Ú mượn xe. Ú điều khiển xe máy đi ra ngoài chờ. Sau khi ăn cơm xong, B bảo chị Đ đi tắm. Trong lúc chị Đ đang tắm, B lấy đăng ký xe mô tô ở trong túi xách của chị Đ rồi gọi điện cho Ú bảo đi xe máy ra ngã 3 Đồng Chu đợi. Sau đó, B gọi điện cho chị Đàm Thị T6, sinh năm 1984 ở cùng thôn nhờ đến nhà chở B ra ngã ba Đ Đến nơi, B xuống xe và bảo chị T6 đi về trước. Ngay sau đó, Ú điều khiển xe mô tô biển số 98L1 – 197.58 đi đến. B bảo Ú chở B mang xe đi cắm. Ú hỏi giấy tờ xe thì B đưa cho Ú xem đăng ký xe. Ú điều khiển xe máy chở B đến cửa hàng mua bán xe máy cũ của Đàm Văn T3, sinh năm 1979 trú tại tổ dân phố T, thị trấn A, huyện S. Tại đây, B đưa cho T3 xem đăng ký xe và Căn cước công dân của B. T3 kiểm tra thấy đăng ký xe mang tên Hoàng Thị Đ mà không phải mang tên B nên hỏi thì B nói xe này là của B, nhờ em gái đứng tên mua trả góp, em gái đang đi làm công ty nên không gọi điện thoại được. T3 tin tưởng và đồng ý mua chiếc xe mô tô này với giá 25.000.000 đồng. T3 đưa tờ giấy cam kết bán xe theo mẫu in sẵn cho B viết nhưng do B không biết chữ nên chỉ ký tên vào giấy bán xe dưới mục người bán. T3 tự viết vào giấy cam kết bán xe thể hiện nội dung Bình bán xe mô tô trên với giá 25.000.000 đồng. T3 bảo vợ là Nguyễn Thị T5 đi lấy 25.000.000 đồng để thanh toán. Chị T5 cầm 25.000.000 đồng đưa cho T3, sau đó T3 đưa số tiền trên cho B. Sau khi nhận tiền, B và Ú đi xe ôm ra về. Trên đường về, B dặn Ú khi nào chị Đ gọi điện đòi xe thì nói dối là chưa về được do đang say rượu, hôm sau mới trả xe. Khi đến ngã ba Đ, B xuống xe gọi chị T6 ra đón đưa về nhà, còn Ú đi lấy xe đạp và đi về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày, chị Đ bảo B gọi điện cho Ú bảo mang trả xe. B gọi điện thoại cho Ú giả vờ bảo mang xe về trả và mở loa ngoài cho chị Đ nghe. Ú trả lời do say rượu nên không về được, hẹn ngày mai mới về trả xe như B dặn trước đó. Số tiền cắm xe có được, B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết và không chia cho Ú. Sáng ngày 21/3/2023, chị Đ gọi điện nhưng B không nghe máy. Chị Đ kiểm tra túi xách thì thấy bị mất Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Sau khi biết đã bị B và Ú lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy, ngày 05/4/2023, chị Đ có đơn trình báo Công an xã Y.

Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision biển số 98L1 – 197.58, số máy 0636039, số khung 012675, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 20/3/2023 trị giá là 29.000.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của Hoàng Thị B, Đàm Văn T3 trên Giấy cam kết bán xe máy đề ngày 20/3/2023 do Cơ quan CSĐT Công an huyện S thu giữ. Kết luận giám định số 1957A/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “ Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ ký, chữ viết dưới mục “Người bán”) so với chữ ký, chữ viết của Đàm Văn T3 trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “B – Hoàng Thị B” dưới mục “Người bán” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Thị B trên các tài liệu mẫu là do cùng một người ký, viết ra.”

Bản cáo trạng số 241/CT-VKS ngày 11/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Thị B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung và truy tố bị cáo Lăng Văn Ú về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Hoàng Thị B, Lăng Văn Ú đã phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX):

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị B từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2023. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 điều 174; điểm i, s, o khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lăng Văn Ú từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 BLHS; Các điều 579; 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Hoàng Thị B phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền: 107.300.000 đồng (một trăm linh bảy triệu ba trăm nghìn đồng); Buộc bị cáo B phải hoàn trả cho anh Đàm Văn T3 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị: Trả cho bị cáo B 01 điện thoại Iphone Xs mã số imei 35309910564875, gắn sim số 0866922305; 01 điện thoại OPPO A57, số imei 1: 862173063620639, số Imei 2: 862173063620621, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Hoàng Thị B được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; Bị cáo Lăng Văn Ú được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị B, bị cáo Lăng Văn Ú đã khai nhận nội dung cáo trạng đã truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Bị cáo B, Ú đều nhận thấy hành vi của mình là sai, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo B trình bày: Nhất trí về tội danh đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét, đánh giá nhân thân, thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo B để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc, sống ở kinh tế khó khăn, chỉ học hết lớp 1, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phạm tội do lạc hậu theo điểm m khoản 1 điều 51 hoặc khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo cũng đã có ý thức trả lại tài sản cho bị hại nên đề nghị áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả một phần và xem xét tình tiết bị hại Hoàng Thị Đ xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng tù đến 4 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo Ú trình bày: Nhất trí về tội danh, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người cao tuổi, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng biện pháp cải tạo không giam giữ với mức hình phạt là 12 tháng cải tạo không giam giữ và không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Ú.

Bị hại chị Hoàng Thị Đ trình bày nội dung cáo trạng đã xác định đúng hành vi của bị cáo B và Ú. Nay chị đã được cơ quan điều tra trả lại tài sản xe mô tô biển số 98L1-197.58, chị không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B và bị cáo Ú.

Anh Đàm Viết T7 trình bày: Anh không biết B, Ú lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của chị Đ. Khi B và Ú đến cửa hàng của anh, B nói muốn chuyển nhượng xe mô tô, anh thấy giấy tờ xe không cùng tên với căn cước của B, có hỏi thì B nói xe mô tô của B nhưng nhờ em gái đứng tên, nên anh tin tưởng đã đồng ý mua xe với giá 25.000.000 đồng. Anh đã viết giấy chuyển nhượng và B đã ký tên vào bên bán, B đã giao đăng ký xe cho anh và anh có phô tô căn cước công dân của B lưu lại. Quá trình đó anh và B trao đổi, giao dịch với nhau, Ú không tham gia. Sau này khi Công an đến hỏi, anh có cung cấp cho biết thông tin, cũng đã chỉ nơi cất xe và giao xe cho Công an. Nay anh yêu cầu bị cáo B phải hoàn trả cho anh số tiền 25.000.000 đồng.

Trương Thị Q trình bày: Bà có quan hệ quen biết và nhận mẹ con với bị cáo B. Quá trình B đưa bà T2 về nhà bà có được gặp, nhưng không biết bà T2 đến nhà B làm gì. Bà không biết B lừa đảo để chiếm đoạt tiền của bà T2. Bà không cho B vay tiền để trả bà T2.

Chị Đ, anh T7, bà Q không tranh luận gì.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận xác định đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đúng quy định của pháp luật. Đối với bị cáo B, Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm m khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự (phạm tội do lạc hậu) như người bào chữa cho bị cáo nêu vì lý do, tuy bị cáo chỉ học hết lớp 1, nhưng xét hành vi bị cáo đã thực hiện cho thấy bị cáo có tính toán, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, nên không thuộc trường hợp phạm tội do lạc hậu. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác thì viện kiểm sát cũng đều đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đối với bị cáo Lăng Văn Ú, viện kiểm sát cũng căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề xuất mức hình phạt tù cho hưởng án treo là phù hợp cho bị cáo.

Bị hại bà Nguyễn Thị T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. HĐXX đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, xét thấy bà T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, xét tại hồ sơ vụ án đã có lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên sự vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Thị B, bị cáo Lăng Văn Ú tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác như kết quả thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu giữ được, phù hợp với kết quả định giá tài sản tại kết luận số 201/KL-HĐĐG ngày 04/10/2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B và kết luận số 15/KL-HĐĐG ngày 28/4/2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S; kết luận giám định số 1727/KL-KTHS ngày 19/9/2023, kết luận giám định số 1957A/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K công an tỉnh B. Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định:

Ngày 20/3/2023, Hoàng Thị B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô Honda Vision biển số 98L1 – 197.58 của em gái là Hoàng Thị Đ nên đã bàn bạc, thống nhất với Lăng Văn Ú dùng thủ đoạn gian dối để Ú đi đến nhà B và giả vờ mượn xe máy của chị Đ để đi lấy tiền. Sau khi Ú mượn được xe của chị Đ, Ú đi ra ngoài chờ B, còn B ở lại đã lấy trộm giấy đăng ký xe mô tô trong túi xách của chị Đ rồi đi đến gặp Ú. Ú đã điều khiển xe mô tô của chị Đ chở B đến cửa hàng mua bán xe máy của Đàm Văn T3 và B đã bán chiếc xe trên cho T3 với giá 25.000.000 đồng. Trị giá tài sản B và Ú lừa đảo chiếm đoạt của chị Đ đã được xác định tại thời điểm chiếm đoạt là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng).

Từ đầu tháng 4/2023 đến ngày 16/5/2023, Hoàng Thị B đến thuê nhà nghỉ V1 của chị Nguyễn Thị A tại địa chỉ số A,đường T, phường T, thành phố B. B đã quen biết với bà Nguyễn Thị T2 là người giúp việc cho nhà nghỉ. Với mục đích chiếm đoạt tài sản của bà T2, B đã nói dối bà T2, đưa ra những thông tin không có thật khiến cho bà T2 tin tưởng nhiều lần cho B vay tiền, tài sản. Sau khi lấy được tiền của bà T2, B đã sử dụng ăn tiêu hết, không trả cho bà T2. Tổng cộng, B đã 5 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T2 với tổng trị giá 126.800.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Các bị cáo Hoàng Thị B, Lăng Văn Ú đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, các hành vi đã thực hiện đều đã hoàn thành.

Đối với bị cáo Hoàng Thị B, một mình thực hiện hành vi gian dối, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị T2, với nhiều lần thực hiện, tổng số tiền chiếm đoạt tài sản của bà T2 là 126.800.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi chủ mưu, đứng đầu trong việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Hoàng Thị Đ, tài sản chiếm đoạt có giá trị 29.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 của BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Lăng Văn Ú, bị cáo cùng bị cáo B thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 98L1-197.58 của chị Hoàng Thị Đ. Mặc dù bị cáo không được ăn chia, hưởng lợi gì, tuy nhiên có cơ sở xác định, bị cáo biết mục đích của B, đã đồng ý với B thực hiện hành vi gian dối, lấy tài sản của chị Đ, sau đó đưa B đi tìm của hàng để cầm cố, chuyển nhượng tài sản trên, do đó bị cáo có vai trò đồng phạm giúp sức cho B trong việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Đ. Với giá trị tài sản trên, Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Lăng Văn Ú về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 174 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về vai trò: Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị T2 xác định bị cáo B không có đồng phạm. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Hoàng Thị Đ, HĐXX xác định bị cáo B có vai trò cầm đầu, đứng thứ nhất; bị cáo Ú giúp sức bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội do đó có vai trò thứ hai.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Hoàng Thị B: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo B đã hoàn trả cho bà T2 được số tiền 15.000.000 đồng trước khi bà T2 có đơn gửi cơ quan điều tra, đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đầu thú, được bị hại là chị Hoàng Thị Đ xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo B đề nghị áp dụng tình tiết “phạm tội do lạc hậu” theo điểm m khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. HĐXX xét thấy, bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, các lần phạm tội đều có chủ đích, bị cáo đủ khả năng nhận thức, hiểu biết hành vi của mình thực hiện là sai nhưng để có tiền tiêu sài bị cáo vẫn bất chấp, cố tình thực hiện, do đó HĐXX không chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên cho bị cáo.

Với hành vi trên của bị cáo B, HĐXX xét thấy phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích. Mức hình phạt đối với bị cáo, HĐXX xét thấy đại diện viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo đề xuất là phù hợp.

Đối với bị cáo Lăng Văn Ú: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, là người đủ 70 tuổi trở lên, hiện đang thờ cúng liệt sỹ, được chị Hoàng Thị Đ xin giảm nhẹ hình phạt, do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, o, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống mà chỉ cần giáo dục tại địa phương là đủ. Tuy nhiên, HĐXX cũng cân nhắc tính chất mức độ của hành vi phạm tội, điều kiện thực tế của bị cáo để áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo điều 65 của Bộ luật hình sự như đề xuất của kiểm sát viên mà không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề xuất của người bào chữa cho bị cáo Ú.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo B, Ú là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

Đối với bị hại bà Nguyễn Thị T2 có yêu cầu bị cáo Hoàng Thị B bồi thường số tiền còn lại là 107.300.000 đồng, HĐXX xét thấy đây là yêu cầu chính đáng, buộc bị cáo phải bồi thường trả bà T2 số tiền trên theo quy định tại điều 48 Bộ luật hình sự, các điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T5 đã chuyển tiền cho bị cáo B, quá trình điều tra xác định chị T5 chuyển tiền cho B là theo yêu cầu của bà T2 - mẹ chị T5. Chị T5 cũng xác định đây là khoản tiền đã cho mẹ, Tòa án đã buộc bị cáo B trả tiền cho bà T2 nên HĐXX không đặt ra xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo với chị T5.

Đối với chị Hoàng Thị Đ đã được cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biển số 98L1-197.58, chị Đ không yêu cầu bị cáo B, Ú bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Đối với anh Đàm Văn T3 yêu cầu bị cáo B hoàn trả số tiền 25.000.000 đồng. Xét thấy khi Bình bán xe mô tô cho anh T3, anh T3 hoàn toàn không biết đây là tài sản do bị cáo lừa đảo chiếm đoạt mà có, do đó việc mua bán ngay tình, căn cứ điều 579 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo B phải trả lại cho anh T3 số tiền 25.000.000 đồng.

[7]. Đối với người liên quan:

Đối với anh Đàm Văn T3 đã mua xe mô tô biển số 98L1 – 197.58 của Hoàng Thị B. Khi mua xe của B, anh T3 không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã triệu tập anh T3 đến làm việc và thông báo cho biết chiếc xe mô tô mua của B là do B lừa đảo chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Đ. Tuy nhiên, vì không muốn bị mất số tiền 25.000.000 đồng đã bỏ ra mua xe nên anh T3 khai đã bán chiếc xe mô tô này cho một người không quen biết ở tỉnh Quảng Ninh. Ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S thi hành lệnh khám xét nơi ở của anh Đàm Văn T3, quá trình khám xét anh T3 đã chỉ dẫn Cơ quan điều tra đến nhà bà Trần Thị T4 để thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 98L1 – 197.58. Anh T3 cũng giao nộp 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy cam kết bán xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã khởi tố Đàm Văn T3 về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Quá trình truy tố, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang xác định anh T3 chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó đã ra quyết định đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự cho anh Đàm Văn T3. HĐXX căn cứ điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, không xem xét.

Đối với bà Trần Thị T4, chị Nguyễn Thị A, chị Nguyễn Thị N, bà Trương Thị Q quá trình điều tra xác định không có căn cứ chứng minh có hành vi đồng phạm với các bị cáo về việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do đó cơ qua điều tra, viện kiểm sát không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại Iphone Xs max số imei 35309910564875, gắn sim số 0866922305; 01 điện thoại OPPO A57, số imei 1: 862173063620639, số Imei 2: 862173063620621 cơ quan điều tra thu giữ của Hoàng Thị B, xét không liên quan đến hành vi phạm tội, HĐXX tuyên trả cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9]. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Hoàng Thị B là đối tượng thuộc diện hộ nghèo, bị cáo Lăng Văn Ú trên 60 tuổi, thuộc diện hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, hình phạt áp dụng:

Căn cứ điều 106, điều 135, điều 136, điều 292, điều 331, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 579, điều 584, điều 585, điều 589 của Bộ luật dân sự.

  • Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; điều 17; điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung đối với bị cáo Hoàng Thị B.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị B 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2023.

  • Căn cứ khoản 1 điều 174; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lăng Văn Ú 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/11/2023.

Giao bị cáo Ú cho UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Hoàng Thị B bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền 107.300.000 đồng (một trăm linh bảy triệu ba trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Hoàng Thị B hoàn trả cho anh Đàm Văn T3 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng:

Trả cho bị cáo Hoàng Thị B: 01 điện thoại Iphone Xs max số Imei 35309910564875, gắn sim số 0866922305; 01 điện thoại OPPO A57, số I 1: 862173063620639, số Imei 2: 862173063620621, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí: Bị cáo Hoàng Thị B được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Lăng Văn Ú được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Hướng dẫn thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại điều 357; điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang
  • -TAND, VKSND Tỉnh Bắc Giang
  • -VKSND TP Bắc Giang
  • -THADS TP Bắc Giang
  • -Công an TP Bắc Giang
  • -Những người TGTT;
  • -UBND xã Yên Định, huyện Sơn
  • Động, tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Đại Sơn, huyện Sơn Động,
  • tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 233/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị B và Lăng Văn U đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. B bị xử phạt 04 năm tù về tội LĐCĐTS, U bị xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger