|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 233/2024/HS-ST Ngày 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Kiểm
Bà Đào Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 242/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 608/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Đào Văn T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị O; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tại Bản án số 26/2016/HS-ST ngày 27/7/2016, Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2019; Tại Bản án số 15/2021/HS-ST ngày 09/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản (hành vi phạm tội ngày 16/01/2021), chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 17/12/2022 (đều chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 14/3/2024, đến ngày 19/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Phạm Huy D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1995 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn X, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Huy V và bà Vũ Thị T1; có vợ là Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1997 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 13/3/2024, đến ngày 19/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 13/3/2024, tại khu vực ngõ D L, L, N, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Phạm Huy D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 ống nhựa kích thước dài khoảng 03 cm màu đỏ sọc trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu QT1) và 01 tẩu thủy tinh đã bị vỡ, không bám dính tạp chất (do D vừa vứt vội xuống đất); 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ có lắp sim số 0386.957.938.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của D, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Huy D khai nhận: Chiều ngày 13/3/2024, D đang ở nhà thì có bạn xã hội tên L (chưa xác định được căn cước, lai lịch) nhắn tin bằng phần mềm Zalo cho D nhờ mua 500.000 đồng ma túy đá mang đến ngõ D Lê Lai. L hứa cho D cùng sử dụng ma túy, trả công D 100.000 đồng và trả tiền taxi chở D mang ma túy đến cho L. D đồng ý và bảo L chuyển khoản 500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M3 của D. Sau đó, D gọi điện và nhắn tin bằng phần mềm Messenger với Đào Văn T hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. D chuyển tiền vào tài khoản A của T rồi đến nhà T lấy ma túy đá, cất giấu vào túi quần bên trái rồi về nhà lấy thêm 01 tẩu thủy tinh cất vào túi quần bên phải. Sau đó, D gọi taxi của Phạm Huy T2 (sinh năm: 1995, nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng) đi đến D L, D không cho T2 biết là D đi bán ma túy. Đến nơi, D bảo T2 đợi ở đầu ngõ D L rồi một mình đi vào trong ngõ để giao ma túy cho L thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, D khai (tại Biên bản ghi lời khai hồi 21 giờ 35 phút ngày 13/3/2024) đã bán ma túy trước đó 03 lần. Cụ thể:
- Khoảng 20 giờ ngày 15/02/2024, D mua của T (chưa xác định được căn cước, lai lịch) với giá 300.000 đồng được 01 túi nilon, trong chứa ma túy đá. Sau đó, D bán cho Đoàn Quang L1 (sinh năm: 1990, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng) tại khu vực cầu B, T, Hải Phòng, với giá 500.000 đồng, thu lợi 200.000 đồng. Việc mua bán được thanh toán bằng tiền mặt.
- Khoảng 11 giờ ngày 09/3/2024, L chuyển khoản 650.000 đồng vào tài khoản của D để nhờ D mua ma túy đá. Sau đó, D chuyển khoản cho T 480.000 đồng mua được 01 ống nhựa dài khoảng 03cm hàn kín 2 đầu, trong chứa ma túy đá rồi bán cho L tại khu vực cổng bệnh viện K, thu lợi 170.000 đồng.
- Khoảng 20 giờ ngày 11/3/2024, D mua của T với giá 300.000 đồng được 01 ống nhựa dài khoảng 03cm hàn kín 2 đầu, trong chứa ma túy đá. Sau đó D bán cho L1 tại khu vực B, T, Hải Phòng với giá 300.000 đồng, L1 hứa sẽ cho D sử dụng chung ma túy đá, D không hưởng lợi bằng tiền. Việc mua bán được thanh toán bằng tiền mặt.
Tuy nhiên, tại các biên bản ghi lời khai ngày 14/3/2024 và sau đó, D khai nhận do thời gian đã lâu và tinh thần hoảng sợ nên khai chưa đúng, các lần mua bán ma túy vào các ngày 15/02/2024, 09/3/2024 và 11/3/2024, D mua ma túy của một đối tượng tên M1 (chưa xác định được căn cước, lai lịch) bằng tiền mặt chứ không phải mua của T.
Kiểm tra dữ liệu điện thoại hồi 23 giờ 30 ngày 13/3/2024 của Phạm Huy D có thông tin về tin nhắn, cuộc gọi M2, dữ liệu chuyển khoản tiền thể hiện việc mua bán ma túy giữa D và T, giữa D và L vào ngày 13/3/2024; có thông tin về tin nhắn Zalo thể hiện việc mua bán ma túy giữa D và L1 các ngày 15/02/2024 và 11/3/2024; có thông tin về tin nhắn Messenger, dữ liệu chuyển khoản tiền thể hiện việc mua bán ma túy giữa D và L vào ngày 09/3/2024.
Ngày 14/3/2024, triệu tập Đoàn Quang L1 đến Cơ quan điều tra, L1 thừa nhận việc mua ma túy của D vào các ngày 15/02/2024 và 11/3/2024 như nội dung nêu trên.
Căn cứ lời khai của Phạm Huy D và các tài liệu điều tra, ngày 14/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đào Văn T, thu giữ: 01 ống nhựa màu tím dài khoảng 3,5cm hàn kín hai đầu, trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu KC1) và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh (ký hiệu A2) (do T vừa vội ném vào khu vực sân vườn cạnh bờ ruộng).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 ống hút nhựa màu tím dài khoảng 03 cm hàn kín 2 đầu, trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu KX1) và nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc khác nhau ở trên bàn trong khu vực bếp nhà T.
Tại Cơ quan điều tra, Đào Văn T khai nhận: Sau khi nhận chuyển khoản 500.000 đồng mua ma túy của D, T đã gọi điện mua ma túy đá của T3 (chưa xác định được căn cước, lai lịch), T3 nói sau khi T bán được ma túy cho D sẽ cho T cùng sử dụng ma túy miễn phí. Một lúc sau, T3 đến nhà T đưa ma túy và nhận tiền mặt. Đối với 02 ống hút nhựa hàn kín hai đầu thu giữ khi bắt giữ khẩn cấp T4 và khám xét nơi ở của T là ma túy đá Trình mua của một người đàn ông tên C (chưa xác định được căn cước, lai lịch) ở khu vực đường V vào khoảng trưa ngày 14/3/2024, T cất giữ để sử dụng cho bản thân. Đối với điện thoại Samsung màu xanh, T không nhớ mật khẩu vì đã lâu không sử dụng mật khẩu mà chỉ dùng vân tay, nay điện thoại bị hỏng do ném vào nước nên không sử dụng được vân tay để mở khóa điện thoại.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của D và T cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.
Kết luận giám định số 303/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Huy D là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu KC1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, loại Methamphetamine; Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,13 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine thu giữ của Đào Văn T là 0,29 gam.
Kết luận giám định số 2221/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H xác định điện thoại thu giữ của D có dữ liệu liên quan đến hành vi mua bán ma túy giữa T và D, giữa D và L, L1 tương ứng với những tài liệu khi kiểm tra điện thoại của D; điện thoại của T không trích xuất được dữ liệu do bị khóa mật khẩu, không mở được để truy xuất dữ liệu.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng:
Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý: 01 phong bì dấu niêm phong số 303MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,11 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dấu niêm phong số 311/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,15 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ có lắp 01 sim số 0386.957.938 của Phạm Huy D; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh của Đào Văn T; 01 tẩu thủy tinh bị vỡ, không bám dính tạp chất, nhiều ống hút nhựa màu sắc khác nhau.
Đối với đối tượng tên L là người mua ma túy của D, quá trình điều tra thu giữ được dữ liệu điện thoại liên quan đến việc nhắn tin, chuyển khoản tiền mua bán ma túy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 2321 ngày 10/8/2024 để xác minh, làm rõ sau.
Đối với đối tượng tên M1 là người bán ma túy cho D vào các ngày 15/02/2024, 09/3/2024 và 11/3/2024; đối tượng tên T3 là người bán ma túy cho T vào ngày 13/3/2024; đối tượng tên C là người bán ma túy cho T vào ngày 14/4/2024, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Đối với Phạm Huy T2 là lái xe taxi chở D đến ngõ D L, T2 không biết việc D cất giấu ma túy đi bán nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Đoàn Quang L1 là người mua ma túy của D để tự sử dụng vào các ngày 15/02/2024 và 11/3/2024, Công an quận N đang xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 245/CT-VKSNQ ngày 11/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Huy D về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Căn cứ điểm q (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 251; điểm s khoản1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Văn T mức án từ 8 năm 06 tháng đến 9 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm o (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 249; điểm s khoản1 Điều 51 Điều 38, Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo Đào Văn T mức án từ 6 năm đến 7 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 14 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng.
- + Căn cứ điểm b (phạm tội 02 làn trở lên) khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Huy D mức án từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có thu nhập ổn định và tài sản riêng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì dấu niêm phong số 303MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,11 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dấu niêm phong số 311/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,15 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 tẩu thủy tinh bị vỡ, không bám dính tạp chất, nhiều ống hút nhựa màu sắc khác nhau. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ có lắp 01 sim số 0386.957.938 của Phạm Huy D; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh của Đào Văn T; số tiền 370.000 đồng là tiền thu lời do bán ma tuý mà bị cáo D đã tự nguyện nộp lại.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của các bị cáo Đào Văn T và Phạm Huy D tại phiên tòa thống nhất và phù hợp, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Từ ngày 15/02/2024 đến ngày 13/3/2024, Phạm Huy D đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho L, L1; Đào Văn T đã 01 lần bán ma túy cho D, cụ thể:
[3] Lần 1: Khoảng 20 giờ ngày 15/02/2024, D bán cho L1 500.000 đồng ma túy đá ở khu vực cầu B, T, Hải Phòng, hưởng lợi 200.000 đồng. Lần hai: Khoảng 11 giờ ngày 09/3/2024, D bán cho L 650.000 đồng ma túy đá ở khu vực cổng bệnh viện K, hưởng lợi 170.000 đồng. Lần ba: Khoảng 20 giờ ngày 11/3/2024, D bán cho L1 300.000 đồng ma túy đá tại khu vực B, T, Hải Phòng, lần này D không hưởng lợi bằng tiền. Lần bốn: Khoảng 19 giờ ngày 13/3/2024, D mua của T 500.000 đồng ma túy đá để bán cho L. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào túi quần bên trái rồi đi đến khu vực ngõ D L, L, Ngô Q, Hải Phòng để bán cho L thì bị Công an quận N bắt quả tang.
[4] Ngày 13/3/2024, tại nhà T ở thôn Đ, B, T, Hải Phòng, T bán cho D 01 ống nhựa màu tím, bên trong chứa 0,19 gam ma túy Methamphetamine. Ngoài ra, T còn cất giữ trái phép 0,29 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân.
[5] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Huy D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đào Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[6] Do đã chứng minh được D bán ma tuý 04 lần nên D phải chịu tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có 02 tiền án năm 2019 và năm 2021 đều chưa được xoá án tích, tiền án năm 2021 đã xác định bị cáo là tái phạm, vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và điểm điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng các quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D đã tự nguyện nộp lại số tiền 370.000 đồng là tiền thu lợi do bán ma tuý nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và quyết định hình phạt:
[9] Hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo T đã có 02 lần phạm tội chưa được xoá án tích, lần này lại tiếp tục phạm tội, như vậy cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Bị cáo D đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về tổng hợp hình phạt:
[10] Bị cáo Trình phạm hai tội do đó Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với từng tội sau đó tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[11] Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dấu niêm phong số 303MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,11 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dấu niêm phong số 311/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,15 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 tẩu thủy tinh bị vỡ, không bám dính tạp chất, nhiều ống hút nhựa màu sắc khác nhau, do đây là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ có lắp 01 sim số 0386.957.938 của Phạm Huy D, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh của Đào Văn T, số tiền 370.000 đồng mà bị cáo D đã tự nguyện nộp lại tại cơ quan thi hành án theo Biên lai thu tiền số 0008752 ngày 24/9/2024, Hải Phòng, do đây là công cụ phương tiện phạm tội và tiền do phạm tội mà có.
- Về án phí:
[12] Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251, điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo T); Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo D):
Tuyên bố:
Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Phạm Huy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt:
Bị cáo Đào Văn T 09 (chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; 06 (sáu) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.
Bị cáo Phạm Huy D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dấu niêm phong số 303MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,11 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dấu niêm phong số 311/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H trong chứa 0,15 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 tẩu thủy tinh bị vỡ, không bám dính tạp chất, nhiều ống hút nhựa màu sắc khác nhau.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ có lắp 01 sim số 0386.957.938 của Phạm Huy D, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh của Đào Văn T, số tiền 370.000 (ba trăm bảy mươi nghìn) đồng mà bị cáo D đã tự nguyện nộp lại tại cơ quan thi hành án.
(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/9/2024 và Biên lai thu tiền số 0008752 ngày 24/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Đào Văn T và Phạm Huy D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo Đào Văn T, Phạm Huy D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 233/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự: mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 233/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trinh Dương
