|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 233/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/11/2025
V/v: “Tranh chấp về việc xác định cha cho con chưa thành niên"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quỹ
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thủy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 211/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Xác định cha cho con chưa thành niên” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lại Hà L, sinh ngày 24/01/2000; căn cước số [...]...; nơi cư trú: Số C T, phường T, tỉnh Ninh Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Cảnh Nam Đ, sinh ngày 01/3/1999; căn cước số [...]...; nơi cư trú: Số C T, phường T, tỉnh Ninh Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Duy B, sinh năm 1995; CCCD số [...]...; nơi cư trú: Số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 20/10/2025, bản tự khai ngày 23/10/2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Lại Hà L trình bày:
Chị và anh Trần Duy B đăng ký kết hôn vào năm 2018. Trong quá trình chung sống chị và anh B phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 và đã giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 515/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình). Chị và anh B có 02 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017 và Trần Duy Gia B1, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2021. Khoảng thời gian sống ly thân, chưa giải quyết ly hôn với anh B, chị đã quan hệ tình cảm với anh Cảnh Nam Đ và đã mang thai. Đến ngày 15/8/2024 chị sinh con tại Bệnh viện P, chị dự định đặt tên con là Lại Ngọc An C. Sau khi ly hôn với anh B, chị và anh Cảnh Nam Đ đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình vào ngày 03/6/2025. Mặc dù cháu Lại Ngọc An C là con chung của chị và anh Đ nhưng chị đã mang thai cháu Lại Ngọc An C trong thời kỳ hôn nhân với anh B nên chưa làm được giấy khai sinh cho cháu. Để có cơ sở làm giấy khai sinh, các thông tin cá nhân, đảm bảo quyền lợi của cháu Lại Ngọc An C và anh Cảnh Nam Đ, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xác định anh Cảnh N Đ là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 (Giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 của Bệnh viện phụ sản tỉnh P. Chị đề nghị Tòa án thực hiện giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa anh Cảnh Nam Đ và cháu Lại Ngọc An C. Về chi phí giám định, chị tự nguyện nộp toàn bộ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 03/11/2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Cảnh Nam Đ trình bày:
Anh và chị Lại Hà L quen biết nhau từ năm 2023, lúc đó chị L chưa ly hôn với anh Trần Duy B nhưng cả hai đã ly thân, mỗi người một nơi. Chị L có nói với anh về việc vợ chồng chị L xảy ra mâu thuẫn nên giữa anh và chị L có quan hệ tình cảm với nhau và chị L mang thai. Đến ngày 15/8/2024 chị L đã sinh con dự định đặt tên là Lại Ngọc An C theo bản sao giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 tại Bệnh viện P. Ngày 27/12/2024 chị L và anh B đã giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 515/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình). Sau đó, anh và chị L đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình vào ngày 03/6/2025.
Mặc dù cháu Lại Ngọc An C là con chung của anh và chị L nhưng chị L mang thai và sinh cháu C trong thời kỳ hôn nhân với anh B nên chưa làm được giấy khai sinh cho cháu. Để có cơ sở làm giấy khai sinh, đảm bảo quyền lợi của anh và cháu Lại Ngọc An C, anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị L, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình giám định ADN để xác định anh – Cảnh Nam Đ là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 (theo bản sao giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 của Bệnh viện P).
3. Tại bản tự khai đề ngày 05/11/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Duy B trình bày:
Anh xác nhận thời gian kết hôn, sống ly thân và giải quyết ly hôn như chị L trình bày. Anh và chị L có 02 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017 và Trần Duy Gia B1, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2021. Từ khi ly thân cuối năm 2023 đến nay anh và chị L mỗi người một nơi. Anh có biết việc chị L quan hệ tình cảm với anh Cảnh Nam Đ và mang thai, thời điểm đó anh và chị L chưa ly hôn, hiện tại chị L đã sinh con và đăng ký kết hôn với anh Đ. Nay chị L làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xác định anh Cảnh N Đ là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C, quan điểm của anh nhất trí, anh không có ý kiến gì. Anh xác định cháu Lại Ngọc An C không phải là con của anh và chị Lại Hà L nên anh từ chối giám định ADN với cháu C. Do bận công việc, anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa.
4. Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ ngày 24/10/2025 về việc trưng cầu giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa anh Cảnh Nam Đ và cháu Lại Ngọc An C.
Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 07/11/2025 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D (G) kết luận: Anh Cảnh Nam Đ, sinh ngày 01/3/1999; căn cước số 03609901... và cháu Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 theo bản sao giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 của Bệnh viện P có quan hệ huyết thống: CHA-CON, độ tin cậy 99,9999%.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng:
Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 88, 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Hà L: Xác định anh Cảnh N Đ là cha đẻ của con Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 tại Bệnh viện P.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngày 01/10/2025 chị Lại Hà L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xác định anh Cảnh N Đ là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C; bị đơn là anh Cảnh Nam Đ có nơi cư trú: Số C T, phường T, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, Điều 35 (sửa đổi bổ sung năm 2025), Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về xác định cha cho con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình.
1.2. Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn là chị Lại Hà L; bị đơn là anh Cảnh Nam Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Duy B đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Chị Lại Hà L và anh Trần Duy B là vợ chồng hợp pháp nhưng đến ngày 27/12/2024 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình) đã giải quyết cho anh chị ly hôn. Tuy nhiên, từ năm 2023 thì chị Lại Hà L và anh Trần Duy B đã sống ly thân với nhau. Trong khoảng thời gian chị L sống ly thân với anh B, chị L đã có quan hệ tình cảm với anh Cảnh Nam Đ. Ngày 15/8/2024 chị L đã sinh con là cháu Lại Ngọc An C.
Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 07/112025 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D (G) kết luận: Anh Cảnh Nam Đ, sinh ngày 01/3/1999; căn cước số [...]... và Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 (bản sao giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 của Bệnh viện P) có quan hệ huyết thống: CHA-CON, độ tin cậy 99,9999%.
Như vậy, căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của chị Lại Hà L, anh Cảnh Nam Đ và anh Trần Duy B về việc xác định cháu Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024 là con chung của chị Lại Hà L và anh Cảnh Nam Đ là đúng với thực tế, phù hợp với kết quả giám định ADN do Tòa án trưng cầu giám định. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Hà L, xác định anh Cảnh N Đ là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C, sinh ngày 15/8/2024.
[3] Về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
Chị Lại Hà L và anh Cảnh N Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Về chi phí tố tụng: Chị Lại Hà L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định ADN và đã nộp cho cơ quan thực hiện việc giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội chị Lại Hà L có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 88, 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 4 Điều 28, Điều 35 (sửa đổi bổ sung năm 2025), điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 220, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Hà L về xác định cha cho con chưa thành niên.
- Xác định anh Cảnh Nam Đ, sinh ngày 01/3/1999; căn cước số [...] là cha đẻ của cháu Lại Ngọc An C, do chị Lại Hà L sinh ra ngày 15/8/2024 theo bản sao giấy chứng sinh số 06164.GCS.36044.24, quyển số 62 ngày 15/8/2024 của Bệnh viện P.
Giữa anh Cảnh Nam Đ và cháu Lại Ngọc An C có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha con với nhau theo quy định của pháp luật.
Chị Lại Hà L và anh Cảnh N Đ có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch để thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con Lại Ngọc An C theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lại Hà L.
- Quyền kháng cáo: Chị Lại Hà L, anh Cảnh Nam Đ và anh Trần Duy B có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thu Định |
Bản án số 233/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về tranh chấp về việc xác định cha cho con chưa thành niên
- Số bản án: 233/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về việc xác định cha cho con chưa thành niên
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lại Hà L yêu cầu xác định cha cho con
