TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ---------- |
Bản án số: 233/2024/HSST Ngày: 19 - 11 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đặng Tấn Đức;
Bà Lê Thị Sao.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 228/2024/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:
Đặng Tuấn L; sinh năm 1990, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: C H, khu phố B, phường T, quận G, TP .; chổ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn N (chết) và bà Nguyễn Kim L1 (chết); vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: 02/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T6) Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Ngọc H; sinh năm 2003, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: 416/19/8 L, phường E, quận A, TP .; chổ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Phi H1 (chết) và bà Liêu Thị Xuân L2, sinh năm 1969; chồng: Lâm Văn T, sinh năm 1989, con: 02 người (lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: 02/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T6) Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
Trần C1; sinh năm 1996, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: H Đô Đốc L, phường T, quận T, TP .; chổ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần N1, sinh năm 1960 và bà Phan Thị T1, sinh năm 1962; vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam: 02/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T6) Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Phúc T2; sinh năm 1998, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: 26/64/179 L, phường G, quận N, Tp .; chổ ở hiện nay: 666/11/13 L, phường B, quận B, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Hồng L3, sinh năm 1974; vợ, con: chưa.
Nhân thân: ngày 30 tháng 09 năm 2024 bị Tòa án nhân dân quận 3, Tp . xử phạt 01 năm tù 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số:122/2024/HS-ST (Án đã có hiệu lực pháp luật).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam C3 (Cơ sở T6) Công an T7 và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại.
Chị Huỳnh Thị Kim T3, sinh năm 2000; trú tại: 7 Đô Đốc L, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
Chị Lê Thị Thanh Q, sinh năm 1986; trú tại: xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Ủy quyền cho anh Nguyễn Như N2, sinh năm 1998; trú tại: xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (Vắng mặt).
Chị Vũ Thị Kim C, sinh năm 1973; trú tại: 6 B, phường E, quận T, TP . (Vắng mặt).
Chị Phạm Thị Như T4, sinh năm 2001; trú tại: 3 H, phường A, quận T, TP . (Vắng mặt).
Chị Nguyễn Thị Hồng L4, sinh năm 1976; trú tại: nhà không số, đường H, phường L, TP ., TP . (Vắng mặt).
Anh Trần Bá H3, sinh năm 2005; trú tại: B T, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Vũ Huyền Kim A, sinh năm 1981; trú tại: 6 B, phường E, quận T, TP . (Vắng mặt).
Chị Phạm Hồ Lê P, sinh năm 1988; trú tại:khu phố A, phường K, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
Ông Lâm Văn L5, sinh năm 1963; trú tại: E L, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
Anh Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1984; trú tại: 6 N, phường N, quận A, TP . (Vắng mặt).
Anh Trần Văn C1, sinh năm 1985; trú tại: C Tân Kỳ - T, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
Anh Lưu Văn S, sinh năm 1963; trú tại: C N, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
Ông Lưu Thanh B, sinh năm 1990; trú tại: C N, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
Anh Đỗ Thành Đ, sinh năm 2003; trú tại: ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và Trần C1 cùng bàn bạc tham gia cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Từ ngày 21/11/2023 đến ngày 26/11/2023, Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và Trần C1 khai nhận thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 18 giờ ngày 21/11/2023, Trần C1 cùng Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và 01 người phụ nữ tên P1 (chưa rõ lai lịch) gặp nhau tại khách sạn Đ1 số E N, phường T, quận T. Sau khi bàn bạc, cả nhóm thống nhất: P1 điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Mio (chưa rõ biển số) chở H ngồi sau, L điều khiển xe gắn máy biển số 60AD-06044 chở C1 ngồi sau, trên đường di chuyển, xe nào phát hiện tài sản thì người ngồi sau xe đó sẽ trực tiếp cướp giật, xe còn lại sẽ chạy phía sau để ngăn cản bị hại và những người truy đuổi. Cả nhóm cùng nhau di chuyển qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H và P1 phát hiện người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) đi xe máy đến công viên dừng xe sát lề đường phía bên UBND quận T lấy điện thoại di động hiệu Samsung A23 ra nghe nên P1 áp sát bên trái người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) rồi H dùng tay phải giật được điện thoại di động trên và tăng ga tẩu thoát. Sau đó người phụ nữ truy hô “Cướp...cướp”, chạy sang đường nhờ L và C1 đuổi bắt thì L liền nổ máy xe chở C1 giả vờ đuổi theo hướng P1 và H tẩu thoát.
Vụ thứ 2: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 21/11/2023, Đặng Tuấn L điều khiển xe máy biển số 60AD-06044 chở Trần C1 ngồi sau phát hiện chị Huỳnh Thị Kim T3 đang đang đi bộ trên tay cầm điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, do L đã điều khiển xe qua vị trí của chị T3 nên C1 nói L quay đầu xe lại. L liền quay đầu xe áp sát phía bên tay trái của chị T3 tại trước số B Cư xá Đ, phường T, quận T, C1 ngồi sau dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động trên rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó, tất cả gặp nhau ở khách sạn “T" số A T, phường T, quận T. Tại đây, C1 kể cho H và P1 nghe về việc cùng L cướp giật được điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax và H nói cho C1 cùng L về việc H và P1 cướp giật được 01 điện thoại Samsung A23.
Sau đó, C1 gọi điện thoại cho Nguyễn Phúc T2 (tên thường gọi là C2) chào bán 02 điện thoại di động trên thì T2 hẹn gặp tại trước số A P, phường B, quận B để giao dịch. C1 điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Mio chở P1 đến và giao cho T2 02 điện thoại di động trên. T2 nhận các điện thoại và nói sẽ báo giá chuyển tiền qua tài khoản sau. Lúc này, P1 dùng điện thoại của C1 gọi điện thoại cho H hỏi số tài khoản của H để T2 chuyển tiền mua điện thoại di động, Hợp đồng ý và báo lại cho T2. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, biết các điện thoại do phạm tội mà có nên T2 gọi điện thoại báo điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax mua lại giá 3.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu Samsung A23 mua lại giá 1.800.000 đồng thì C1 đồng ý. Sau khi bán được tài sản C1, L, H, P1 chia nhau tiêu xài hết.
Sau đó, T2 đã bán 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23 giá 1.500.000 đồng và Iphone 12 Promax giá 4.500.000 cho một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi xảy ra vụ việc, do bận việc nên đến ngày 28/11/2023 chị T3 mới đến Công an phường T, quận T trình báo. Riêng người phụ nữ bị cướp giật điện thoại di động hiệu Samsung A23 không đến Công an phường trình báo.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 21/11/2023, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, G, bộ nhớ 256GB, trị giá 13.000.000 đồng. (BL 82)
Về phần dân sự: Chị Huỳnh Thị Kim T3 yêu cầu Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. C1, L chưa bồi thường. (BL 149-150).
Vụ thứ 3: Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2023, Đặng Tuấn L điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave màu xám, biển số 59T2-232.11 chở Đặng Ngọc H4 di chuyển qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, L phát hiện chị Lê Thị Thanh Q đeo 01 túi xách màu hồng bên vai phải đang đứng trước nhà số A V, phường T, quận T thì rủ H4 cướp giật điện thoại di động trên, Hợp đồng ý. Sau đó, L liền điều khiển xe áp sát bên phải chị Q để H4 ngồi sau dùng tay trái giật được túi xách trên rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó, cả hai quay về phòng 101 khách sạn H6, tại đây H4 cùng L kiểm tra túi xách thì thấy bên trong có số tiền 20.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng và một số giấy tờ của chị Q. Sau đó H4 và L chia đều số tiền 20.000.000 đồng và cả hai đã tiêu xài hết.
Ngày 27/11/2023, H4 mang sợi dây chuyền đến tiệm vàng trên đường C, phường H, quận T (không rõ địa chỉ) để bán nhưng tiệm vàng nói là giả nên không mua nên H4 đã vứt dây chuyền trên vào thùng rác trước nhà số A C, phường H, quận T. Đối với giấy tờ của chị Q thì H4 đem về cất giấu tại nhà số E L, phường P, quận T. Ngày 28/11/2023, Chị Q đến công an phường T, quận T trình báo vụ việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 712/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 26/11/2023, kết luận:
“+ 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 2,3 chỉ (đã bao gồm tiền công) trị giá 11.024.400 đồng;
+ 01 mặt dây chuyền hình chữ thập bằng vàng 18K, trọng lượng 1,1 chỉ (đã bao gồm tiền công) trị giá 5.407.800 đồng;
+ 01 túi xách hiệu Juno màu hồng kem, không xác định do không rõ chất liệu, kích thước, chất lượng còn lại của tài sản.
Tổng trị giá tài sản cướp giật trong vụ này là 36.432.200 đồng.” (BL 287)
Về phần dân sự: Chị Lê Thị Thanh Q yêu cầu Nguyễn Ngọc H và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 40.700.000 đồng. Hợp, L chưa bồi thường. (BL 426-427).
Ngoài ra, các bị can Trần C1, Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Phúc T2 còn thực hiện các hành vi Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, tại khách sạn "" số B N, Phường A, quận T, Trần C1 rủ Đặng Tuấn L đi trộm cắp xe máy để có tiền tiêu xài, L đồng ý. Sau đó, cả hai đi bộ qua nhiều tuyến đường nhằm tìm kiếm xe máy để sơ hở để trộm cắp. Khi đến trước nhà số B N, Phường A, quận T, L phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Yamha Sirius biển số 54P2-0666 của chị Vũ Thị Kim C dựng trước nhà, không người trông coi nên nói C1 đưa bộ đoản cho L. Sau đó, L cầm bộ đoản đi bộ vào tiếp cận xe gắn máy trên để bẻ phá khóa xe, còn C1 đi ra đầu hẻm B N để đứng cảnh giới. Do không phá ổ khóa xe được nên L đưa đoản cho C1 để tiếp tục bẻ khóa xe còn L đứng cảnh giới. Sau khi bẻ được ổ khóa xe, C1 điều khiển xe gắn máy trộm cắp được về khách sạn “Đ" số E N, phường T, quận T thuê phòng nghỉ và để xe gắn máy của chị C tại khách sạn. Còn L thuê xe ôm đi riêng về khách sạn “Đại Lộc”. Ngày 29/11/2023, chị C đã đến công an phường A1, quận T trình báo vụ việc.
Qua xác minh xe gắn máy biển số 54P2-0666 do chị Vũ Huyền Kim A, thường trú: 6 B, Phường E, quận T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 15/12/2011, chị Kim A đã tặng lại xe gắn máy trên cho chị Vũ Thị Kim C và có làm thủ tục công chứng tại Ủy ban nhân dân Phường E, quận T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 14/11/2023, kết luận: “01 xe gắn máy hiệu Yamha Sirius biển số 54P2-0666, trị giá 5.300.000 đồng.” (BL 616)
Về phần dân sự: Chị Vũ Thị Kim C yêu cầu Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 5.300.000 đồng. C1, L chưa bồi thường. (BL 662 ).
Vụ thứ 2: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, Trần C1 điều khiển xe gắn máy biển số 54P2-0666 (xe trộm cắp của chị C) chở Đặng Tuấn L đi tìm xe máy sơ hở để trộm cắp. Khi qua quán cà phê số A N, phường T, quận T, cả hai thấy không có bảo vệ trông giữ xe nên cùng nhau vào uống nước chờ cơ hội để trộm cắp. C1 dựng xe máy kế bên xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 85V4- 9136 của chị Phạm Thị Như T4. Trong lúc uống nước C1 và L bàn bạc sẽ lấy trộm xe gắn máy biển số 85V4- 9136. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C1 và Linh tính tiền ra về. C1 ngồi trên xe gắn máy biển số 54P2-0666 chồm người qua dùng đoản bẻ khóa xe gắn máy biển số 85V4- 9136 còn L đứng che chắn cảnh giới cho C1. Sau khi bẻ được ổ khóa xe, C1 điều khiển xe gắn máy biển số 54P2-0666, L điều khiển xe gắn máy biển số: 85V4- 9136 chạy tẩu thoát. Sau đó, C1 và L đem xe máy trộm được cất giấu tại khách sạn “Đại Lộc”. C1 lên mạng xã hội Facebook chào bán xe gắn máy biển số 54P2-0666 và xe gắn máy biển số 85V4- 9136 cho Nguyễn Phúc T2 (tên gọi khác là C2). Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai điều khiển 02 xe gắn máy trên đến trước số A P, phường B, quận B chờ T. Khoảng 05 phút sau, Nguyễn Phúc T2 đi cùng một thanh niên (chưa rõ lai lịch) tới gặp C1 và L. Sau khi xem xe, biết rõ nguồn gốc xe máy do C1 phạm tội mà có nhưng T2 vẫn đồng ý mua 02 xe máy trên giá 4.000.000 đồng. Sau đó, C1 và L đón xe ôm về lại khách sạn “Đại Lộc”, mỗi người chia nhau số tiền 2.000.000 đồng và cả hai đã tiêu xài hết. Sau đó, T2 bán 02 xe máy trên cho 02 người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 01 chiếc 2.500.000 đồng và 01 chiếc giá 2.800.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.300.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 28/11/2023, chị T4 đến Công an phường T trình báo vụ việc bị trộm cắp xe máy.
Qua xác minh xe máy biển số 85V4- 9136 do chị Phạm Hồ Lê P, thường trú: Khu A, K, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận đứng tên chủ sở hữu giùm cho em họ là chị Phạm Thị Như T4.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 14/11/2023, kết luận: “01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 85V4- 9136 trị giá 6.000.000 đồng.” (BL 689)
Về phần dân sự: Chị Phạm Thị Như T4 yêu cầu Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. C1, L chưa bồi thường. (BL 742).
Vụ thứ 3: Ngày 17/11/2023, Trần C1 rủ Nguyễn Ngọc H đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, Hợp đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, C1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Click màu tím (không rõ biển số) chở H đi tìm xe gắn máy để trộm cắp. Khi đi ngang quán cà phê số I L, phường H, quận T thì H phát hiện có 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số: 95F1- 087.90 của chị Nguyễn Thị Hồng L4 dựng sát lề đường, xe có cắm sẵn chìa khóa, không người trông coi nên H chỉ cho C1 thấy và cả hai thống nhất trộm xe máy trên. Sau đó, C1 đi bộ vào tiếp cận xe gắn máy trên còn H ngồi trên xe máy hiệu Honda Click đậu trước số 57A Lương Trúc Đàm cảnh giới. Khi thấy C1 đã bẻ được ổ khóa xe và lên xe chạy đi thì H điều khiển chạy trước, C1 điều khiển xe trộm được chạy theo sau. Lúc này, H nói C1 chạy xe gắn máy trên về khách sạn “Đ”, còn H đi về nhà có việc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đến khách sạn “Đại Lộc”, C1 gọi điện thoại cho Đặng Tuấn L nhờ tìm người mua giúp xe gắn máy trên, L đồng ý.
Lúc này, C1 lấy xe máy hiệu Honda Click chạy qua khách sạn “Tuấn Tứ” số 160 T chở Đặng Tuấn L qua khách sạn Đ1 rồi C1 nói cho L biết xe do trộm cắp có được và giao xe gắn máy biển số 95F1-087.90 cho L mang đi bán.
Do L không bán xe gắn máy được nên C1 gọi điện thoại đến tiệm cầm đồ “999” số A N, phường T, quận T gặp chủ tiệm là anh Đoàn Minh Q1 hỏi cầm xe gắn máy hiệu Sirius. Anh Q1 trả lời xe có giấy tờ thì cầm được khoảng 4.000.000 đồng nên C1 nói L mang xe gắn máy trên qua tiệm cầm đồ “999” để cầm. Sau khi xem xe, thấy có giấy đăng ký xe và giấy chứng minh nhân dân của chủ xe là Nguyễn Thị Hồng L4 nên anh Q1 đồng ý cầm xe với số tiền 4.500.000 đồng. Sau đó, L giữ lại 500.000 đồng, H và C1 mỗi người chia nhau 2.000.000 đồng, tất cả đã tiêu xài hết. Về phía bị hại Nguyễn Thị Hồng L4, do bận việc nên đến ngày 28/11/2023 chị Nguyễn Thị Hồng L4 đã đến Công an phường H, quận T trình báo vụ việc.
Qua xác minh xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số: 95F1- 087.90 do chị Nguyễn Thị Hồng L4 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe máy trên cho chị L4 và chị L4 không có yêu cầu bồi thường gì khác. (BL 252)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 17/11/2023, kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 95F1- 087.90 trị giá 8.000.000 đồng. (BL 745)
Về phần dân sự: Anh Đoàn Minh Q1 không yêu cầu bồi thường. (BL 815a, 815b)
Vụ thứ 4: Khoảng 12 giờ ngày 20/11/2023, Trần C1 và Đặng Tuấn L cùng ở tại phòng 203 khách sạn “Đại Lộc” bàn bạc cùng đi tìm tài sản sơ hở để trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó, cả hai đi bộ tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp, khi đến ngã ba đường T đường T thì L phát hiện xe gắn máy hiệu Victoria màu đen cam, biển số 81AT-01163 của anh Trần Bá Hoàng D trước quán ăn “Chú Béo BBQ” số B T, phường T, quận T, không có người trông coi nên L đi bộ tiếp cận rồi dắt bộ xe gắn máy trên đến trước Trường mầm non B2 số 267 T giao cho C1 bẻ khóa xe. Do bẻ khóa không được nên C1 gọi điện thoại cho H nói H chạy xe máy đến để đẩy đi thì Hợp đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe gắn máy hiệu Dream đến rồi đưa xe cho C1 điều khiển chở H ngồi sau còn C1 dùng chân đạp vào gác chân sau xe gắn máy biển số: 81AT-011.63 do L điều khiển đi đến tiệm sửa xe trên đường K, quận B để nhờ thợ làm nổ máy xe. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L đi ra tiệm sửa xe lấy xe về khách sạn Đ1. C1, L, H thống nhất không bán xe này mà để sử dụng thì C1 đồng ý, L tháo biển số 81AT-011.63 và gắn biển số 60AD-060.44 để sử dụng. Ngày 22/11/2023, L sử dụng xe gắn máy trên thì bị va chạm giao thông tại trước số E Hồ N, Phường B, Quận F, sợ bị phát hiện nên L đã bỏ lại xe gắn máy trên để tẩu thoát. Ngày 28/11/2023, anh Trần Bá H3 đã đến Công an phường T trình báo vụ việc.
Qua xác minh xe gắn máy trên do chị Trần Thị P2, thường trú: thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) là mẹ ruột của anh Trần Bá H3 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với chị P2 được biết xe gắn máy trên chị P2 mua vào năm 2020 và đứng tên chủ sở hữu. Sau khi mua xe, chị P2 cho anh H3 sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho anh H3.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thời điểm định giá ngày 20/11/2023, kết luận: “01 xe gắn máy hiệu Victoria màu đen cam, biển số 81AT-01163 trị giá 7.000.000 đồng.” (BL 818)
Về phần dân sự: Anh Trần Bá H3 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì khác. (BL 251).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần C1, Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Phúc T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T thu thập.
Vật chứng thu giữ: có trong bản thống kê vật chứng kèm theo vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 247/CT-VKSQ.TP ngày 15 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã:
Truy tố các bị cáo Đặng Tuấn L và Nguyễn Ngọc H về tội: “Cướp giật tài sản”, tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Truy tố bị cáo Trần C1 về tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Truy tố bị cáo Nguyễn Phúc T2 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên Tòa:
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
* Đối với bị cáo Đặng Tuấn L:
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Tuấn L từ 06 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
* Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H:
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản".
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 05 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù.
* Đối với bị cáo Trần C1:
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần C1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần C1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Trần C1 từ 05 năm tù đến 06 năm tù.
* Đối với bị cáo Nguyễn Phúc T2:
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
Các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H, Trần C1, Nguyễn Phúc T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định:
Từ ngày 21/11/2023 đến ngày 26/11/2023, Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và Trần C1 có hành vi cướp giật tài sản cụ thể như sau:
Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 21/11/2023, L và C1 đã có hành vi điều khiển xe máy thực hiện cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax trị giá 13.000.000 đồng của chị Huỳnh Thị Kim T3 tại trước số B Cư xá Đ, phường T, quận T, TP ..
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 26/11/2023, L và H đã có hành vi điều khiển xe máy thực hiện cướp giật 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 2,3 chỉ trị giá 11.024.400 đồng; 01 mặt dây chuyền hình chữ thập bằng vàng 18K, trọng lượng 1,1 chỉ trị giá 5.407.800 đồng; 01 túi xách hiệu Juno màu hồng kem của chị Lê Thị Thanh Q. Tổng trị giá tài sản cướp giật là 16.432.200 đồng tại trước nhà số A V, phường T, quận T, TP
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2023 đến ngày 20/11/2023, Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và Trần C1 còn có hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, L và C1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Yamha Sirius biển số 54P2-0666 trị giá 5.300.000 đồng của chị Vũ Thị Kim C tại trước nhà số B N, phường A, quận T, TP ..
Khoảng 20 giờ ngày 14/11/2023, L và C1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 85V4- 9136 trị giá 6.000.000 đồng của chị Phạm Thị Như T4 tại trước số A N, phường T, quận T, TP ..
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/11/2023, H và C1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số: 95F1- 08790 trị giá 8.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hồng L4 tại trước số I L, phường H, quận T, TP ..
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, L và C1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Victoria màu đen cam, biển số 81AT-01163 trị giá 7.000.000 đồng của anh Trần Bá H3 tại trước số B T, phường T, quận T, TP ..
Vì vậy, Cáo trạng số: 247/CT-VKSQ.TP ngày 15 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã:
Truy tố các bị cáo Đặng Tuấn L và Nguyễn Ngọc H về tội: “Cướp giật tài sản”, tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Truy tố bị cáo Trần C1 về tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;Truy tố bị cáo Nguyễn Phúc T2 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra phù hợp với nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì giữa các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công, bàn bạc và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình, Hồi đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
Đối với bị cáo Đặng Tuấn L: bị cáo cùng đồng bọn tham gia 02 vụ cướp giật tài sản, trị giá tài sản cướp giật là: 49.432.200 đồng. Vai trò tham gia của bị cáo là người chở để đồng bọn cướp giật 02 vụ. Ngoài ra, bị cáo cùng đồng bọn tham gia 03 vụ trộm cắp tài sản, trị giá: 18.300.000 đồng, bị cáo trực tiếp trộm cắp 02 vụ, 01 vụ bị cáo là người cảnh giới để đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo còn tham gia giúp đồng bọn tiêu thụ 01 xe máy, hiệu Honda Click, trị giá 8.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H: bị cáo cùng đồng bọn tham gia 01 vụ cướp giật tài sản, trị giá 36.432.200 đồng. Bị cáo là người thực hành trong vụ án. Ngoài ra, bị cáo cùng đồng bọn tham gia 01 vụ trộm cắp tài sản, trị giá 8.000.000 đồng, bị cáo là người cảnh giới để đồng bọn thực hiện tội phạm. Bị cáo còn tham giúp đồng bọn tiêu thụ 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 01 xe máy hiệu Victoria, trị giá: 7.000.000 đồng bằng hình thức cung cấp số tài khoản để T2 chuyển khoản và hỗ trợ L, C1 đưa xe máy đến cửa hàng xe để nổ máy.
Đối với bị cáo Trần C1: bị cáo tham gia 01 vụ cướp giật tài sản, trị giá 13.000.000 đồng. Bị cáo là người thực hành 01 vụ. Ngoài ra, bị cáo cùng đồng bọn tham gia 04 vụ trộm cắp tài sản, trị giá: 26.300.000 đồng. Trong 04 vụ trộm cắp tài sản, vai trò tham gia của bị cáo là người thực hành 02 vụ, 02 vụ bị cáo là người cảnh giới để đồng bọn thực hiện tội phạm.
Đối với bị cáo Nguyễn Phúc T2: đã 02 lần có hành vi tiêu thụ tài sản do Nguyễn Ngọc H, Đặng Tuấn L và Trần C1 phạm tội mà có với tổng giá trị 8.800.000 đồng, thu lợi bất chính 2.500.000 đồng.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với Đặng Tuấn L về tội “Cướp giật tài sản”: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Đặng Tuấn L và Trần C1 về tội “Trộm cắp tài sản”: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Phúc T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H, Trần C1 trong trường hợp phạm nhiều tội.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số: 122/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân quận 3, TP . với mức hình phạt của Bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là phù hợp.
[7] - Đối với người phụ nữ tên P1 (chưa rõ lai lịch) tham gia cướp giật tài sản cùng L, H và C1 thì hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi L, H và C1 cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23 vào ngày 21/11/2023 tại công viên phía bên hông Ủy ban nhân dân quận T do chưa xác định được bị hại nên chưa đủ cơ sở để xử lý L, H và C1 về hành vi Cướp giật tài sản, hiện Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm bị hại, khi nào xác định được bị hại sẽ xử lý sau.(BL 8a, 8b)
[8] Về trách nhiệm dân sự.
Chị Huỳnh Thị Kim T3 yêu cầu các bị cáo Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị T3. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể, buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị T3 số tiền 6.500.000 đồng. Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị T3 số tiền 6.500.000 đồng.
Chị Lê Thị Thanh Q yêu cầu Nguyễn Ngọc H và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 40.700.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị Q. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Q số tiền 20.350.000 đồng. Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Q số tiền 20.350.000 đồng.
Chị Vũ Thị Kim C yêu cầu Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 5.300.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị C. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể, buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị C số tiền 2.650.000 đồng. Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị C số tiền 2.650.000 đồng.
Chị Phạm Thị Như T4 yêu cầu Trần C1 và Đặng Tuấn L bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị T4. Xét việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể, buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị T4 số tiền 3.000.000 đồng. Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị T4 số tiền 3.000.000 đồng.
Anh Đoàn Minh Q1 không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Trần Bá H3 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số Imei: 86461104994985101, là điện thoại H sử dụng để nhận tiền chuyển khoản từ T. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo sơ mi tay ngắn màu hồng, 01 quần ngắn màu hồng, 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục Hợp mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 3.700.000 đồng thu giữ của bị cáo H. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc bồi thường cho những người bị hại.
Đối với 01 đôi bông tai bằng vàng có đính đá trắng, 01 biên lai mua vàng Kim Thành P3, là tài sản H dùng tiền cướp giật có được để mua. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc bồi thường cho những người bị hại.
Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Thanh Q, 01 căn cước công dân mang tên Lê Thị Thanh Q, đã trả lại cho chị Q là phù hợp.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hồng L4; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Hồng G; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Hồng L4, đã trả lại cho chị L4 là phù hợp.
Đối với 01 giấy cầm xe máy, biển số: 95F1-08790, là giấy tờ cầm xe máy tại tiệm cầm đồ anh Q1. Lưu hồ sơ vụ án.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 59T2-232.11; số khung: RLHJA3907HY800037; số máy: JA39E0780236, là xe gắn máy H sử dụng để đi cướp giật tài sản. H khai nhận mượn xe gắn máy trên của ông Lâm Văn L5 là bố chồng để mua đồ.
Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Nguyễn Hữu T5, thường trú: 6 N, phường N, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh tại địa chỉ trên anh T5 có địa chỉ như trên nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 5/2020 cho đến nay, hiện đi đâu không rõ.
Qua làm việc với ông Lâm Văn L5, thường trú: 176/15 N, phường P, quận T được biết xe gắn máy trên ngày 15/10/2023 ông L5 mua tại cửa hàng X số C T, phường T, quận T, sau đó chỉ làm biên nhận bán xe với cửa hàng nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe. Ngày 26/11/2023, Nguyễn Ngọc H là con dâu của ông L5 mượn xe máy trên để đi mua đồ. Việc H sử dụng xe gắn máy trên để đi cướp giật tài sản thì ông L5 không biết.
Qua làm việc với ông Trần Văn C1 là chủ hộ kinh doanh Phát Minh được biết xe gắn máy trên do cửa hàng mua lại của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) vào khoảng đầu tháng 9/2022 và có đưa giấy đăng ký xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 15/10/2022, cửa hàng bán lại xe máy trên cho ông Lâm Văn L5. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho ông Lâm Văn L5 và ông L5 không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha biển số: 59M1-126.56; số khung: RLCL44S10BY037024; số máy: 44S1037024, là xe gắn máy H sử dụng để đi cướp giật tài sản. H khai nhận mượn xe gắn máy trên của anh Lưu Thanh B để đi mua đồ.
Qua xác minh, xe gắn máy trên do anh Lưu Văn S, thường trú: 394 N, phường P, quận T đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với ông S được biết xe gắn máy trên ông S mua đã lâu và đứng tên chủ sở hữu. Khoảng cuối tháng 11/2023, ông S đi ra ngoài và để xe máy trên ở nhà, sau đó con ruột của ông là anh Lưu Thanh B cho một người bạn mượn nhưng sau đó không thấy trả lại. Qua làm việc với anh Lưu Thanh B được biết anh B cho Nguyễn Ngọc H mượn xe máy để đi mua đồ nhưng không thấy H trả. Việc H sử dụng xe gắn máy trên để đi cướp giật tài sản thì anh B không biết. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho anh Lưu Văn S và anh S không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 20cm, L sử dụng để cắt trái cây trong phòng khách sạn; 01 thanh kim loại hình trụ màu vàng dài khoảng 5cm; 01 ống kim loại hình trụ rỗng rộng khoảng 8mm, dài khoảng 2cm; 01 ống kim loại hình trụ rỗng rộng khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác; 01 đầu mài nhọn); 01 cờ lê bằng kim loại dài khoảng 12cm. Xét không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số I: 353244117609724/01; 353245117609721/01, là điện thoại L sử dụng để liên lạc đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội. Cần tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 máy tính bảng Galaxy tab, số I: 356136109980823, L sử dụng cá nhân. Xét không liên đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 túi xách hiệu Juno, màu hồng, là tài sản L cướp giật được của chị Lê Thị Thanh Q. Chị Q không yêu cầu nhận lại. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 biển số xe 60AD-060.44, biển số xe do L nhặt được ngoài đường không nhớ rõ địa điểm.
Qua xác minh, biển số 60AD-06044 có thông tin chủ xe Đỗ Thành Đ (thường trú: Phố I, ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc với ông Đ được biết biển số trên của xe máy hiệu Sirus, màu xanh đen, loại 50cm³, mua vào năm 2019 và đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2021, ông Đ bán xe máy biển số 60AD-06044 cho một người (không rõ lai lịch) liên hệ qua mạng xã hội. Do bán xe đã lâu và đã nhận đủ tiền nên ông Đ không có yêu cầu, thắc mắc khiếu nại gì về sau. Cần tuyên tịch tghu tiêu hủy.
[10] Biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm nộp lại số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T2 phải có trách nhiệm nộp lại số tiền: 2.500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
[11] Án phí: Các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H, Trần C1, Nguyễn Phúc T2. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Đặng Tuấn L phải nộp: 1.625.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp:1.017.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Trần C1 phải nộp: 607.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H phạm tội: “Cướp giật tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Trần C1 phạm tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Phúc T2 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đặng Tuấn L 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đặng Tuấn L 02 (H5) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đặng Tuấn L 01 (Một) năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 03 tội là: 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 02/12/2023.
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H 03 (Ba) năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 (Một) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 (Một) năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 03 tội là: 05 (năm) tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 02/12/2023.
Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Trần C1 04 (B1) năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Trần C1 02 (H5) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Trần C1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 03 tội là: 06 (S1) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 02/12/2023.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Phúc T2 02 (H5) năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số 122/2024/HS-ST, ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân quận 3, TP . với 02 năm của Bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T2 phải chấp hành hình phạt hình phạt chung cho cả 02 Bản án là: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 29/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự:
Buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Huỳnh Thị Kim T3 số tiền 6.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Huỳnh Thị Kim T3 số tiền 6.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Lê Thị Thanh Q số tiền 20.350.000 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Lê Thị Thanh Q số tiền 20.350.000 đồng.
Buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Vũ Thị Kim C số tiền 2.650.000 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Vũ Thị Kim C số tiền 2.650.000 đồng.
Buộc bị cáo Trần C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị Như T4 số tiền 3.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị Như T4 số tiền 3.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải có trách nhiệm nộp lại số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T2 phải có trách nhiệm nộp lại số tiền: 2.500.000 đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số Imei: 86461104994985101, là điện thoại H sử dụng để nhận tiền chuyển khoản từ T2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số I: 353244117609724/01; 353245117609721/01, là điện thoại L sử dụng để liên lạc đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo sơ mi tay ngắn màu hồng, 01 quần ngắn màu hồng, 01 đôi dép quai ngang màu đen, là trang phục Hợp mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 dao cán nhựa, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 20cm, L sử dụng để cắt trái cây trong phòng khách sạn; 01 thanh kim loại hình trụ màu vàng dài khoảng 5cm; 01 ống kim loại hình trụ rỗng rộng khoảng 8mm, dài khoảng 2cm; 01 ống kim loại hình trụ rỗng rộng khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác; 01 đầu mài nhọn); 01 cờ lê bằng kim loại dài khoảng 12cm; 01 túi xách hiệu Juno, màu hồng; 01 biển số xe 60AD-060.44.
Tiếp tục tạm giữ: số tiền 3.700.000 đồng thu giữ của bị cáo H; 01 đôi bông tai bằng vàng có đính đá trắng, 01 biên lai mua vàng Kim Thành P3, là tài sản H dùng tiền cướp giật có được để mua nhằm đảm bảo cho việc bồi thường cho những người bị hại.
Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn L: 01 máy tính bảng Galaxy tab, số I: 356136109980823.
Lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy cầm xe máy, biển số: 95F1-08790, là giấy tờ cầm xe máy tại tiệm cầm đồ anh Q1.
Các vật chứng còn lại hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 62/PNK ngày 05/3/2024 của Công an quận T.
[27] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H, Trần C1, Nguyễn Phúc T2. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Đặng Tuấn L phải nộp: 1.625.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp: 1.017.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Trần C1 phải nộp: 607.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[28] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đặng Tuấn L, Nguyễn Ngọc H, Trần C1, Nguyễn Phúc T2 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành | Nơi nhận:
|
Bản án số 233/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 233/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản, Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
