|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 233/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thân Thị Tuyết Nhung.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 225/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn M, sinh năm 1990.
Quê quán: thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú: Số nhà A, đường Đ, tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không
Con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ ba; Bị cáo có vợ là Đỗ Ngọc H, sinh năm 1997 (đã ly hôn) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- + Ngày 21/8/2013 bị Phòng C1 Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc;
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 145 ngày 28/7/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; đã chấp hành xong bản án vào tháng 10/2014 và đã được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 06 ngày 15/01/2019 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; đã chấp hành xong bản án vào ngày 16/12/2021;
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 36 ngày 07/3/2019 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với bản án hình sự sơ thẩm số 06 ngày 15/01/2019 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, buộc chấp hành hình phạt chung là 04 năm tù; đã chấp hành xong bản án ngày 16/12/2021 và đã được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại
- - Chị Đào Thị T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Nơi thường trú: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà E, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1953 (vắng mặt).
- - Bà Trần Thị N, sinh năm 1958 (vắng mặt).
- Đều địa chỉ: Số nhà E, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Trần Thị H3, sinh năm 1986 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 25/6/2024 đến ngày 03/7/2024, Đỗ Văn M, sinh năm 1990, trú tại số nhà A, đường Đ, tổ dân phố C, phường X, thành phố B đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã V và thành phố B, tỉnh Bắc Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 25/6/2024, Đỗ Văn M đi xe ôm từ thành phố B đến quán xăm hình “1992 TATTO” của chị Đào Thị T, sinh năm 1992 ở tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mục đích để xăm hình. Khi đến nơi, M nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, màu sơn đen không gắn biển số dựng trước cửa quán. Chiếc xe này là của chị T mua tại cửa hàng X1 của anh Trần Văn H4, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã V (xe có biển kiểm soát 20B2-354.94, số khung 4215DY020123 và số máy JF42E0020150 nhưng chị T không gắn biển số do đang nhờ rút hồ sơ và làm thủ tục chuyển nhượng). M đi vào gặp chị T đặt vấn đề xăm hình. Chị T xăm hình cho M được khoảng 10 phút thì đi vào nhà vệ sinh. Lúc này, M quan sát thấy chiếc chìa khoá điện xe mô tô để trên bàn nên ngồi dậy mặc áo, lấy chìa khoá xe rồi đi ra cửa quán mở khoá điện xe mô tô Honda SH 125i. M điều khiển xe đi về thành phố B và sử dụng làm phương tiện đi lại.
Ngày 09/9/2024, chị T giao nộp cho Công an thị xã V 02 hình ảnh trích xuất từ camera quán xăm hình “1992 TATTO” và 01 giấy biên nhận bán xe kiêm bảo hành thể hiện chị T mua chiếc xe mô tô trên tại cửa hàng X1.
Ngày 03/8/2024, Đỗ Văn M giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu sơn đen, không gắn biển số. Kiểm tra xác định xe có số khung 4215DY020123 và số máy JF42E0020150.
Kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH125I, số khung 4215DY020123, số máy JF42E0020150, biển số 20B2-354.94; đăng ký ngày 26/9/2020 đã qua sử dụng, trị giá vào thời điểm tháng 6/2024 là 40.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã cho M xác định vị trí trộm cắp chiếc xe và quan sát bản ảnh camera do chị T giao nộp. M xác định địa điểm trộm cắp xe mô tô tại vỉa hè trước cửa quán xăm hình “1992 TATTO” và xác định có hình ảnh M mặc quần đùi tối màu, áo sơ mi dài tay màu trắng trộm cắp xe mô tô của chị T.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô Honda SH cho chị Đào Thị T. Chị T không yêu cầu Đỗ Văn M phải bồi thường.
Vụ thứ hai: Buổi trưa ngày 01/7/2024, Đỗ Văn M đi đến nhà nghỉ S ở số nhà E đường L, phường D, thành phố B do ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1953 làm quản lý. M sử dụng căn cước công dân số [...] của M để thuê phòng 401 và nghỉ tại đây.
Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2024, anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là con trai ông H2 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu sơn đen, biển số 98B2-084.14 chở 02 thùng catton đựng các thiết bị vật tư công nghiệp đi đến nhà nghỉ. Anh H1 để xe mô tô tại khu vực để xe tầng 1, cất chìa khoá xe tại ngăn kéo tủ quầy lễ tân rồi đi lên phòng nghỉ. Thời điểm này, M đi xuống tầng 1 nhờ ông H2 giúp đi mua 01 suất cơm nên nhìn thấy anh H1 để chìa khoá xe máy tại tủ quầy lễ tân. M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của anh H1.
Một lúc sau, M đi xuống quầy lễ tân, thời điểm này ông H2 đã đi mua cơm. M lấy 01 chiếc khẩu trang màu trắng trong túi quần ra che camera ở cầu thang nhưng không che được làm chiếc khẩu trang rơi xuống nền nhà. M đi vào mở ngăn kéo quầy lễ tân lấy chìa khóa điện rồi đi ra vị trí xe mô tô biển số 98B2-084.14. M để 01 thùng catton xuống nền nhà và để lại 01 thùng trên xe, đặt chiếc ba lô lên trên thùng catton, dắt xe đến khu vực quầy lễ tân và đề nổ máy rồi điều khiển xe đi về hướng xã D, thành phố B. Trên đường đi, M dừng lại mở cốp xe kiểm tra thấy bên trong có 02 chiếc ví da màu vàng (01 chiếc ví da dạng ví nữ bên trong có 01 đăng ký xe mô tô, 02 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn H1 và 01 chiếc ví da dạng ví gấp của nam bên trong có số tiền 1.800.000 đồng). M vứt 02 chiếc ví da cùng 02 giấy phép lái xe xuống ven đường, cất giấy chứng nhận đăng ký xe và số tiền 1.800.000 đồng vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. M mở thùng hàng kiểm tra thấy bên trong có 01 chiếc máy cảm biến quang. Do không biết tính năng, tác dụng nên M cất chiếc máy vào gầm giường phòng ngủ. Sau đó, M đi xe mô tô biển số 98B2-084.14 đến nhà chị Trần Thị H3, sinh năm 1986 ở tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề bán xe. M nói với chị H3 là xe của M nên chị H3 đồng ý mua với giá 20.000.000 đồng. Chị H3 đưa cho M 01 tờ giấy mua bán xe ô tô, xe máy theo mẫu in sẵn để M viết và ký tên. M giao cho chị H3 chiếc xe mô tô, đăng ký xe, giấy bán xe và căn cước công dân của M để chị H3 chụp ảnh lại. Chị H3 trả cho M 18.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 2.000.000 đồng đến số tài khoản 0967794628 ngân hàng MB mang tên Đỗ Văn M. Số tiền trộm cắp và bán xe có được, M khai sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Đối với anh Nguyễn Văn H1 sau khi phát hiện bị mất xe mô tô đã kiểm tra camera thì phát hiện M trộm cắp. Anh H1 có đơn trình báo và giao nộp 01 bản photo tờ khai thông tin hàng hoá bên trong thùng hàng bị trộm cắp; 01 ảnh căn cước công dân của Đỗ Văn M; 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô biển số 98B2-084.14 mang tên Nguyễn Văn H1.
Ngày 04/7/2024, Cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Trần Thị H3 chiếc xe mô tô Honda SH biển số 98B2-084.14 bên trong cốp xe có đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H1; 01 giấy mua bán xe có tên người bán là Đỗ Văn M. Kiểm tra điện thoại của chị H3 phát hiện 11 ảnh chụp liên quan đến nội dung mua bán chiếc xe biển số 98B2-084.14.
Ngày 03/8/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Đỗ Văn M đến làm việc thì M đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X gắn sim số 0967.794.xxx.
Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Đỗ Văn M thu giữ 01 bộ cảm biến quang, model SK-CKKCS906F, điện áp nguồn 12-24VDC, trên bộ thiết bị có chữ "SUN KWANG ELECTRONIC CO.LTD”.
Kết luận định giá tài sản số 183/KL-HĐ ngày 04/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu sơn đen, biển số 98B2-084.14 mua mới năm 2014 đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm ngày 03/7/2024 là 30.000.000 đồng;
- - 01 chiếc máy cảm biến quang, model SK-CKKCS906F, điện áp nguồn 12-24VDC, khoảng cách phát hiện 0.1-7m, sử dụng ở lối ra vào của nhà kho, nhà xưởng, hãng sản xuất AUTONICS, hàng mới 100%, trị giá tại thời điểm ngày 03/7/2024 là 3.627.000 đồng;
- - 01 chiếc ví da, dạng ví nữ màu vàng đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm ngày 03/7/2024 là 70.000 đồng;
- - 01 chiếc ví da, dạng ví gấp của nam giới, màu vàng, đã qua sử dụng, trị giá tại thời điểm ngày 03/7/2024 là 50.000 đồng.
Tổng cộng: 33.747.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của nhà nghỉ S ghi lại hình ảnh M trộm cắp.
Kết luận giám định số 1725/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định
- Trích xuất được 22 (hai mươi hai) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra cho Đỗ Văn M quan sát 02 đoạn video trên. M xác định có hình ảnh M mặc áo phông cộc tay màu trắng, quần đùi màu đen, đội mũ lưỡi trai, đi giày màu trắng có hành động che camera; đi vào khu vực quầy lễ tân trộm cắp xe mô tô Honda SH ngày 03/7/2024.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn M trên “Giấy mua bán (cho, tặng) xe ô tô, xe máy” do chị Trần Thị H3 giao nộp. Kết luận giám định số 1836/KL-KTHS ngày 24/8/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh B kết luận:
Chữ ký, chữ viết tại mặt trước trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Đỗ Văn M trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 và M5) là do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan điều tra cho Đỗ Văn M xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra hành vi trộm cắp tại nhà nghỉ S. Kết quả, M xác định địa điểm trộm cắp chiếc xe mô tô 98B2-084.14 tại tầng 1 nhà nghỉ S và thực hiện thuần thục các động tác mở tủ quầy lễ tân lấy chùm chìa khoá rồi trộm cắp chiếc xe máy như đã khai.
Cơ quan điều tra cho Đỗ Văn M, chị Trần Thị H3, anh Nguyễn Văn H1 nhận dạng ảnh. Kết quả M nhận đúng ảnh chị H3 và xác định là người đã mua chiếc xe mô tô 98B2-084.14; chị H3 nhận đúng ảnh M và xác định M bán chiếc xe mô tô 98B2-084.14 với giá 20.000.000 đồng; anh H1 nhận đúng ảnh M và xác định M thuê phòng 401 nhà nghỉ S sau đó trộm cắp chiếc xe máy ngày 03/7/2024.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 chiếc máy cảm biến quang và chiếc xe mô tô biển số 98B2-084.14 kèm theo đăng ký xe. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X thu giữ của M được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Đối với 02 chiếc ví và 02 giấy phép lái xe của anh H1. Theo bị cáo M khai đã vứt đi nhưng không nhớ địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền 1.920.000 đồng; chị Trần Thị H3 yêu cầu M bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Đến nay, bị cáo M chưa bồi thường.
Đối với chị Trần Thị H3 mua chiếc xe mô tô biển số 98B2-084.14 do Đỗ Văn M đem đến bán nhưng không biết tài sản là do M phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
*Tại bản cáo trạng số 226/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
*Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
*Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 1.920.000 đồng, bồi thường cho chị Trần Thị H3 số tiền 20.000.000 đồng.
- - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, vỏ màu đen, kính lưng bị vỡ, gắn số thuê bao 0967.794.628 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
*Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo gửi lời xin lỗi đến bị hại và xin Hội đồng xét xử được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/6/2024, Đỗ Văn M trộm cắp chiếc xe mô tô Honda SH trị giá 40.000.000 đồng của chị Đào Thị T ở tổ dân phố T, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang rồi sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô trả lại cho chị T. Ngày 03/7/2024, Đỗ Văn M trộm cắp chiếc xe mô tô Honda SH biển số 98B2-084.14 (trong cốp xe có 02 chiếc ví da và số tiền 1.800.000 đồng); 01 chiếc máy cảm biến quang của anh Nguyễn Văn H1 để tại nhà nghỉ S, số E, đường L, phường D, thành phố B. Tổng trị giá tài sản là 35.547.000 đồng. M cất giấu chiếc máy cảm biến ở nhà rồi bán chiếc xe mô tô biển số 98B2-084.14 cho chị Trần Thị H3 ở thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang được 20.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô và máy cảm biến trả lại cho anh H1. Tổng trị giá tài sản mà M trộm cắp trong hai vụ là 75.547.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi và nhân thân của của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và 03 lần bị xét xử về hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện xin đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 1.920.000 đồng, bồi thường cho chị Trần Thị H3 số tiền 20.000.000 đồng.
[9] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, vỏ màu đen, kính lưng bị vỡ, gắn số thuê bao 0967.794.628 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.096.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Đối với chị Trần Thị H3 mua chiếc xe mô tô biển số 98B2-084.14 do Đỗ Văn M đem đến bán nhưng không biết tài sản là do M phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
[12] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 03(ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 1.920.000 đồng (một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), bồi thường cho chị Trần Thị H3 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, vỏ màu đen, kính lưng bị vỡ, gắn số thuê bao 0967.794.628 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.096.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 233/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 233/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn M "Trộm cắp tài sản"
