|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 233/2024/HSST
Ngày: 07/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Xuyên.
Ông Nguyễn Duy Tuyên.
Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 204/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị B. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: N. Sinh ngày 10/10/1997 tại Hà Nội. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1966. Họ tên mẹ: Đặng Thị T, sinh năm 1971. Họ tên chồng: Hà Lâm S, sinh năm 1994 (Đã ly hôn). Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 12/4/2024. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 285 ngày 12/4/2024 và số 504 ngày 20/6/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị hại:
- Chị Trần Thị Ánh N1, sinh năm 1979. Trú tại: P314 H, T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992. Trú tại: Thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
(Chị H có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 6/2023, thông qua mạng xã hội T1, Nguyễn Thị B (tên gọi khác là N), sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội biết được chị Trần Thị Ánh N1, sinh năm 1979, trú tại P314 H2, tập thể Khoa học - Xã hội, phường C, quận B, Hà Nội là mẹ đơn thân, có điều kiện kinh tế nên B nảy sinh ý định làm quen để chiếm đoạt tài sản của chị N1. Nguyễn Thị Bích tạo 01 tài khoản Tiktok mang tên “Lê T2” (sử dụng ảnh đại diện là nam giới), tài khoản Zalo tên “Minh T3” để tiếp cận, làm quen, nhắn tin, kết bạn qua mạng xã hội với chị N1. Nguyễn Thị Bích đóng vai một nam giới có tên là Z “Minh T3” tự giới thiệu mình làm trong ngành công an nhân dân, đã ly hôn vợ, để tạo lòng tin, dễ lấy được tình cảm của chị N1. Quá trình nhắn tin, chị N1 nảy sinh tình cảm với “Minh T3”. Dưới thân phận là người nam giới tên “Minh T3”, B giới thiệu với chị N1 là “Minh T3” có em gái họ tên là B (tên gọi ở nhà là N) sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thị B” để hai người làm quen với nhau. Từ đó, B sử dụng đồng thời 02 tài khoản mạng xã hội Z là “Nguyễn Thị B” và “Minh T3”, đóng 02 vai để liên hệ thường xuyên với chị N1.
Từ tháng 9/2023, B đưa ra những thông tin sai sự thật để chiếm đoạt tiền, tài sản của chị N1 tiêu xài cá nhân. Chị N1 tin tưởng thông tin “Minh T3”, “Nguyễn Thị B” đưa ra là thật nên đã nhiều lần chuyển tiền từ số tài khoản cá nhân 0011001919094 tại Ngân hàng V của chị N1 cho B. Cụ thể như sau:
- -Lần thứ nhất: Ngày 05/11/2023, “Minh T3” gửi cho chị N1 01 bài viết kêu gọi ủng hộ cho 01 cháu bé là con của đồng nghiệp bị dị tật bẩm sinh, xin chị N1 tiền ủng hộ 2.000.000 đồng. Chị N1 đồng ý và chuyển cho B 2.000.000 đồng vào số tài khoản 2101019978888 tại Ngân hàng M1 mang tên Nguyễn Thị Bích.
- -Lần thứ hai: Ngày 18/02/2024, “Minh T3” xin chị N1 số tiền 1.400.000 đồng với lý do cần mua máy tính mới. Chị N1 đồng ý và chuyển cho Nguyễn Thị B 1.400.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
- -Lần thứ ba: Ngày 22/02/2024, “Nguyễn Thị B” tâm sự sắp đi làm từ thiện ở tỉnh Hà Giang và kêu gọi chị N1 ủng hộ tiền làm từ thiện. Chị N1 đồng ý và chuyển cho B 1.000.000 đồng vào số tài khoản 3160205408435 tại Ngân hàng A mang tên NguyễnThanh B1.
- -Lần thứ tư: Ngày 26/02/2024, “Minh T3” xin chị N1 300.000 đồng để mua chuột máy tính. Chị N1 đồng ý và chuyển cho B 300.000 đồng vào số tài khoản 0975045084 tại Ngân hàng M1 mang tên Bàn Thị T4.
- - Lần thứ năm: Ngày 06/3/2024, “Minh T3” xin chị N1 1.000.000 đồng để mua đàn ghita. Chị N1 đồng ý và chuyển cho Nguyễn Thị B 1.000.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
- - Lần thứ sáu: Ngày 15/3/2024, “Minh T3” xin chị N1 1.000.000 đồng để đặt cọc mua máy tính mới do máy tính cũ bị Cơ quan công an thu giữ. Chị N1 đồng ý và chuyển cho Nguyễn Thị B 1.000.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
- - Lần thứ bẩy: Ngày 16/3/2024, “Minh T3” xin chị N1 1.000.000 đồng để mua máy tính mới. Chị N1 đồng ý và chuyển cho B 1.000.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
- Lần thứ tám: Ngày 25/3/2024, “Minh T3” xin chị N1 1.500.000 đồng để mua loa máy tính. Chị N1 đồng ý và chuyển cho B 1.500.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
- - Lần thứ chín: Ngày 01/4/2024, “Minh T3” xin chị N1 2.500.000 đồng để nâng cấp máy tính mới mua. Chị N1 đồng ý và chuyển cho Nguyễn Thị B 2.500.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1.
Ngoài những số tiền trên, “Minh T3” còn xin chị N1 mua cho 01 tuýp kem chống nắng nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA; 01 gel dưỡng trắng và cấp ẩm cho da nhãn hiệu Hadalabo Koi Gokujyun Whitening Perfect 100g để sử dụng trong quá trình đi công tác. Chị N1 mua và gửi B đưa cho “Minh T3”.
Đến khoảng tháng 3/2024, chị N1 muốn chấm dứt mối quan hệ tình cảm thì “Minh T3” (thực chất là Nguyễn Thị B) sử dụng những lời lẽ đe dọa, cưỡng ép chị N1, buộc chị N1 phải đưa tiền và quà, nếu không thì sẽ không để yên cho chị N1 và gia đình. Cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Ngày 20/3/2024, khi chị N1 đề nghị chấm dứt mối quan hệ tình cảm, “Minh T3” đe dọa là sẽ thuê xã hội đen cắt gân 02 con nhỏ của chị N1 và in ấn, đăng tải lên mạng xã hội các thông tin, hình ảnh sai sự thật của chị N1 để bêu riếu. Vì lo sợ, chị N1 xin “Minh T3” nhưng “Minh T3” vẫn yêu cầu chị N1 phải chuyển số tiền 4.000.000 đồng để “Minh T3” trả tiền công cho xã hội đen. Chị N1 đã chuyển cho Nguyễn Thị B 4.000.000 đồng vào số tài khoản 19031330087017 tại Ngân hàng T6 mang tên Nguyễn Văn S1. Sau đó, hai người lại làm lành với nhau.
- - Lần thứ hai: Ngày 03/4/2024, “Minh T3” lấy cớ chị N1 không nhắn tin trả lời sớm nên phải phạt, yêu cầu chị N1 chuyển cho mình 1.000.000 đồng. Chị N1 nói không có tiền, xin khất, “Minh T3” đe doạ nếu không sẽ xiên chết chị N1, ghép mặt chị N1 vào các hình ảnh khỏa thân trên mạng xã hội và yêu cầu đến ngày 06/4/2024 chị N1 phải chuyển cho “Minh T3” 2.000.000 đồng cùng 01 gói phô mai, 04 gói mặt nạ, 04 chai nước ngọt và 02 gói bánh bao và bảo chị N1 đến địa phận huyện S đưa cho B để B đưa lại cho “Minh T3”.
Ngày 06/4/2024, chị N1 đến quán C thuộc thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội để gặp B giao quà và tiền theo yêu cầu của “Minh T3”. Tại đây, khi Nguyễn Thị B vừa nhận tiền cùng 01 túi nilon đựng đồ ăn, mỹ phẩm của chị N1 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 207/KL-HĐ ngày 13/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 gói phô mai que hương sữa T7 400g trị giá 115.325 đồng; 04 gói mặt nạ Collagen Essence M trị giá 60.000 đồng; 04 chai nước trái cây Ice vị đào 490ml trị giá 40.000 đồng; 02 gói bánh bao nhân đậu xanh Thọ Phát trị giá 37.450 đồng; 01 tuýp kem chống nắng nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA trị giá 189.750 đồng; 01 gel dưỡng trắng và cấp ẩm cho da nhãn hiệu Hadalabo Koi Gokujyun Whitening Perfect 100g trị giá 395.788 đồng.
Tổng giá trị tiền, tài sản mà Nguyễn Thị B sử dụng thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt được của chị N1 là 12.285.538 đồng.
Tổng giá trị tiền, tài sản mà B chiếm đoạt được của chị N1 thông qua việc đe dọa, cưỡng ép là 6.252.775 đồng.
Mở rộng điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S còn xác định được: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019, với thủ đoạn tương tự, Nguyễn Thị B có hành vi chiếm đoạt tiền, tài sản của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992, trú tại thôn H, xã M, huyện S, Hà Nội. Cụ thể:
Khoảng tháng 01/2018, B sử dụng 01 sim rác (B không nhớ số thuê bao) và lập 01 tài khoản Facebook “Trân Tuấn” (sử dụng ảnh của một người nam giới trên mạng xã hội làm ảnh đại diện) để làm quen, xây dựng quan hệ tình cảm nam nữ với chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992, trú tại thôn H, xã M, huyện S, Hà Nội, mục đích để chiếm đoạt tài sản của chị H. Bích tự giới thiệu mình tên là T3 làm ở Bộ C1. Sau một thời gian trò chuyện, chị H nảy sinh tình cảm yêu đương qua mạng với tài khoản Facebook tên “Trân T5” mà không gặp mặt trực tiếp. Ngoài ra, “Trân Tuấn” còn giới thiệu có người quen tên B (tức N) ở gần nhà chị H, nhằm tạo thuận lợi để B nhận quà từ chị H. Sau đó, “Trân Tuấn” (Bích) nhiều lần yêu cầu chị H gửi đồ ăn như bánh mỳ, ốc xào, nem rán và thẻ điện thoại với các mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, với tổng giá trị thẻ khoảng 700.000 đồng cho mình thông qua B.
Khoảng tháng 01/2019, do nhiều lần không được gặp mặt “Trân Tuấn” nên chị H muốn chấm dứt mối quan hệ với “Trân Tuấn”. Chị H không gửi đồ ăn và thẻ điện thoại cho “Trân Tuấn” nữa. “Trân T5” níu kéo chị H nhưng không thành. Đến khoảng tháng 5/2019 “Trân T5” đăng tải ảnh khỏa thân của chị H lên Facebook cá nhân để một số người bạn của chị H trông thấy nhằm cảnh cáo chị H, sau đó khoảng 01 tiếng thì “Trân Tuấn” xóa bài đăng. Vài ngày sau, “Trân T5” đăng ảnh cháu gái của chị H lên mạng xã hội kèm lời đe dọa sẽ làm hại cháu bé nhằm mục đích chị H phải xấu hổ, sợ hãi và tiếp tục duy trì mối quan hệ với “Trân Tuấn”. Chị H nhắn tin xin “Trân T5” ngừng hành vi của mình để không ảnh hưởng tới cuộc sống và gia đình, “Trân Tuấn” đồng ý và đưa ra điều kiện chị H phải chuyển 150.000 đồng và 01 thẻ điện thoại mệnh giá 50.000 đồng cùng đồ ăn (ốc xào, nem chua rán) cho B, để B đưa cho “Trân Tuấn”. Sau đó, chị H đã mang tiền, thẻ điện thoại cùng đồ ăn cho B theo yêu cầu rồi chấm dứt mối quan hệ với “Trân Tuấn” (B).
Đối với số thức ăn là ốc xào, nem chua rán, bánh mì mà Nguyễn Thị Bích cưỡng Đ được của chị H thì do thời gian đã lâu, chị H và B đều không nhớ rõ thông tin giá trị, không có hóa đơn mua bán nên không có căn cứ để định giá tài sản.
Đối với số đồ ăn mà B lừa đảo được của chị H: Chị H không nhớ rõ số lượng, không cung cấp được hóa đơn, chứng từ mua hàng nên không có căn cứ để định giá tài sản. Đối với số thẻ có mệnh giá khoảng 700.000 đồng: Do giá trị của thẻ dưới 2.000.000 đồng, thời điểm xảy ra sự việc từ năm 2018 đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề cập xử lý.
Tổng giá trị tiền, thẻ điện thoại Nguyễn Thị Bích cưỡng Đ được của chị H là 200.000 đồng.
Tang vật tạm giữ, xử lý vật chứng: 01 điện thoại Iphone 6s plus IMΕΙ 354985076996614, 01 gói phô mai que hương sữa T7 400g; 04 gói mặt nạ Collagen Essence M; 04 chai nước trái cây Ice+ vị đào; 02 gói bánh bao nhân đậu xanh T8; 01 tuýp kem chống nắng nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA (đã qua sử dụng); 01 gel dưỡng trắng và cấp ẩm cho da nhãn hiệu Hadalabo Koi Gokujyun Whitening Perfect 100g (đã qua sử dụng). Ngày 07/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 gói phô mai que, 04 gói mặt nạ, 04 chai nước, 02 gói bánh bao cho chị N1 là chủ sở hữu hợp pháp.
Về phần bồi thường dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Thị B đã tự nguyện bồi thường cho chị N1 số tiền 30.000.000 đồng. Chị N1, chị H không có yêu cầu gì khác về phần bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thị B thừa nhận đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 12.285.538 đồng của chị Trần Thị Ánh N1 và nhiều lần có hành vi đe doạ, gây sức ép để chiếm đoạt của chị Trần Thị Ánh N1 trị giá tài sản 6.252.775 đồng và chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H trị giá tài sản là 200.000 đồng.
- Bị hại Trần Thị Ánh N1 xác định Nguyễn Thị B đã bồi thường cho cho chị N1 30.000.000 đồng. Chị N1 không còn yêu cầu gì về phần bồi thường. Về phần hình phạt chị N1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tại cáo trạng số 182/CT-VKS ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị B về tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị B với mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị B với mức án từ 12 đến 15 tháng tù.
- - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội với mức án từ 27 đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Về phần bồi thường dân sự: Bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không còn yêu cầu gì.
Truy thu số tiền của bị cáo do phạm tội mà có 200.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6s plus IMEI 354985076996614 thu của bị cáo Nguyễn Thị B sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu huỷ: 01 tuýp kem chống nắng nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA (đã qua sử dụng); 01 gel dưỡng trắng và cấp ẩm cho da nhãn hiệu Hadalabo Koi Gokujyun Whitening Perfect 100g (đã qua sử dụng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án : Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được:
Từ khoảng tháng 9 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024, thông qua mạng xã hội Zalo, Nguyễn Thị B đã có hành vi giả danh người nam giới với tên gọi “Minh T3”, nhiều lần đưa ra thông tin sai sự thật để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tiền mặt, đồ ăn, mĩ phẩm...của chị Trần Thị Ánh N1, tổng giá trị tài sản là 12.285.538 đồng.
Từ tháng 3 năm 2024 đến ngày 06/4/2024, do chị Trần Thị Ánh N1 muốn chấm dứt mối quan hệ với người có tên Z là “Minh T3” nên Nguyễn Thị B đã có hành vi đe dọa để gây sức ép, buộc chị Trần Thị Ánh N1 phải chuyển tiền, đồ ăn, mĩ phẩm...cho B, tổng giá trị tài sản là 6.252.775 đồng.
Ngoài ra, khoảng tháng 5/2019, cùng thủ đoạn tương tự, Nguyễn Thị B giả danh một người nam giới tên Z là “Trân T5” kết bạn với chị Nguyễn Thị H sau đó đe dọa, cưỡng đoạt tài sản là tiền, thẻ điện thoại của chị Nguyễn Thị H với tổng giá trị là 200.000 đồng.
Vì vậy, đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị B đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Bản cáo trạng số 182/VKS-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị B về tội “Cưỡng Đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng vẫn cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo.
{3} Về phần bồi thường dân sự: Chị Trần Thị Ánh N1 đã được Nguyễn Thị B bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Chị N1, chị H không còn yêu cầu gì về phần bồi thường nên không phải đặt ra để giải quyết.
{4} Về vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu vàng. Có Imel 354985076996614 (đã qua sử dụng).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp kem chống nắng dưỡng thể vỏ màu xanh, nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA (đã qua sử dụng) và 01 hộp kem dưỡng thể vỏ màu xanh, nhãn hiệu Hadalabo (đã qua sử dụng).
{5} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị B 20 (Hai mươi) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị B 16 (Mười sáu) tháng tù.
- Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Thị B phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 4 năm 2024 đến ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- + Truy thu số tiền của bị cáo Nguyễn Thị Bích D1 phạm tội mà có 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6S plus, màu vàng. Có Imel 354985076996614 (đã qua sử dụng).
- (Tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp kem chống nắng dưỡng thể vỏ màu xanh, nhãn hiệu Sunplay Skin Aqua UV Body Cooling Lotion SPF 50+ PA (đã qua sử dụng) và 01 hộp kem dưỡng thể vỏ màu xanh, nhãn hiệu Hadalabo (đã qua sử dụng).
- (Tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
- + Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo, chị Trần Thị Ánh N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
Bản án số 233/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 233/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù
