Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 233/2024/DSST

Ngày: 18/10/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính

Ông Nguyễn Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường 6 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 690/2024/TLST-DS ngày 03/7/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2024/QĐST-DS ngày 09/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1578/2024/QĐST-DS ngày 27/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T3.

Địa chỉ trụ sở: số A, N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Đại diện theo pháp luật: ông Ngô Anh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng T3: Ông Nguyễn Thế H; chức vụ: Phó Tổng giám đốc.

(theo Văn bản ủy quyền số 215/2024/UQ-NĐDPL.11.01 ngày 02/4/2024).

Ông H ủy quyền lại cho:

  1. Ông Phạm Tiến D – PGĐ phụ trách Chi nhánh Đ.
  2. Bà Trần Thị Lệ Q – GĐ khách hàng bán lẻ – Chi nhánh Đ.

Địa chỉ liên hệ: số B, Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(theo Văn bản ủy quyền số 334/2024/UQ-OCEANBANK.11.01 ngày 15/5/2024).

Ông D ủy quyền lại cho: ông Vũ Minh C, sinh năm 1988.

Địa chỉ liên hệ: số B, Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(theo Văn bản ủy quyền số 1238/2024/UQ-OCEANBANK.ĐNAI ngày 10/7/2024).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1988.

Ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1985.

Cùng hộ khẩu thường trú: tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông C có mặt; bà T1, ông A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng T3, theo bản tự khai, biên bản làm việc và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Minh C trình bày:

Ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 vay vốn tại Ngân hàng T3 theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 với những nội dung chính như sau:

  • Số tiền cho vay: 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng);
  • Thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày nhận nợ
  • Mục đích sử dụng vốn vay: mua thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • Lãi suất tại thời điểm cấp tín dụng: 11%/năm. Lãi suất đang áp dụng: 11%/năm. Lãi suất áp dụng đối với du nợ gốc bị quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong thời hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Đối với lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  • Ngày quá hạn: 06/02/2024.

Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, bà T1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022 để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1.

Quá trình vay, ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 đã thanh toán cho O được số tiền tạm tính đến ngày làm đơn khởi kiện 15/4/2024 là 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) tiền nợ gốc.

Do ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng T3 làm đơn khởi kiện bà T1, ông A tại Tòa án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T3 theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 đã ký với Ngân hàng tạm tính đến ngày 18/10/2024 số tiền như sau:

+ Nợ gốc: 1.710.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm mười triệu đồng);

+ Nợ lãi: 139.733.754 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu bẩy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng);

+ Lãi trên gốc quá hạn: 3.539.589 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng);

+ Phạt trên lãi chậm trả: 5.586.255 đồng (Năm triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng);

Tổng cộng: 1.858.859.598 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm chín mươi tám đồng).

- Kể từ ngày 19/10/2024, Ngân hàng được quyền tiếp tục tính lãi, phạt theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 cho đến ngày bà T1, ông A thanh toán toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng.

- Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1.

- Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông A và bà T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

- Theo nội dung bản tự khai ngày 26/7/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết A1 trình bày:

Bà thừa nhận bà và chồng là ông Nguyễn Đức A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 để vay Ngân hàng số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) với lãi suất vay và thời hạn vay như nguyên đơn trình bày. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông bà đã thanh toán được 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) tiền nợ gốc và đóng lãi hàng tháng từ thời điểm vay ngày 10/11/2022 đến ngày 06/02/2024. Tuy nhiên, do hiện tại tình hình kinh tế khó khăn, ông bà chưa có công việc ổn định nên không thể thanh toán lãi đầy đủ cho Ngân hàng. Nay bà xin Ngân hàng cho thời gian để thanh toán khoản nợ, đồng thời mong Ngân hàng xem xét giảm lãi suất vay cho ông bà.

Bà đồng ý với nội dung bản tự khai ngày 26/7/2024 của đại diện Ngân hàng và thống nhất khoản nợ hiện nay cả gốc và lãi, lãi phạt quá hạn với số tiền 1.807.934.809 đồng (Một tỷ tám trăm lẻ bảy triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm lẻ chín đồng).

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức A: Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Đức A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng ông A vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông A cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

  • - Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng T3 với ông Nguyễn Đức A, bà Nguyễn Thị Ánh T1 là tranh chấp dân sự; đồng thời bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, Đồng Nai. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là vụ kiện thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Thẩm phán đã xác định thẩm quyền thụ lý vụ án đúng với quy định của pháp luật.
  • - Về quan hệ pháp luật: Thẩm phán xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng T3 với ông Nguyễn Đức A, bà Nguyễn Thị Ánh T1 là hoàn toàn phù hợp đúng với khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
  • - Về xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định nguyên đơn, bị đơn đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS.
  • - Về thu thập chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán có tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Xét thấy, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định Điều 97, 101 BLTTDS.
  • - Về thụ lý vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử:
    • + Về thụ lý vụ án: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS.
    • + Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 BLTTDS.
  • - Về thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS .
  • - Về việc chuyển giao hồ sơ cho VKS: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS.
  • - Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng: Thẩm phán đều thực hiện đúng quy định tại các Điều 171, 173, 17, 179 BLTTDS.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

  • - Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về người có yêu cầu khởi kiện, cung cấp chứng cứ cho toà án để chứng minh những yêu cầu hợp pháp của mình, tham gia phiên họp công khai chứng cứ theo đúng thông báo của toà án là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 85, 86, 91, 96 BLTTDS.
  • - Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Anh T2, ông Nguyễn Đức A trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

4. Về đường lối giải quyết vụ án:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:

Giữa Ngân hàng T3 (O) và ông Nguyễn Đức A, bà Nguyễn Thị Ánh T1 có thoả thuận ký kết Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 để vay số tiền: 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng). Mục đích vay: mua bất động sản. Thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày nhận nợ. Lãi suất tại thời điểm cấp tín dụng: 11%/năm. Lãi suất đang áp dụng: 11%/năm. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong thời hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Đối với lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Xét thấy:

Tính đến ngày khởi kiện 15/4/2024, ông A, bà T1 đã thanh toán cho O số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) tiền nợ gốc. Do ông A và bà T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho O theo thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng đã ký dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Mặc dù, O đã nhiều lần đôn đốc và gửi thông báo yêu cầu ông A, bà T1 có trách nhiệm thanh toán nợ cho O nhưng ông A, bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn này cho O. Do ông A, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 06/02/2024 nên việc O yêu cầu ông A, bà T1 phải thanh toán trả nợ cho O là có cơ sở chấp nhận.

Để đảm bảo cho khoản vay nói trên, bà Nguyễn Thị Ánh T1 đã ký kết với O Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1. Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng tại Văn phòng C1, thành phố B ngày 12/10/2022, số công chứng 3230, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 12/10/2022 đúng theo quy định pháp luật.

Qua xem xét, thẩm định tại chỗ của cơ quan chuyên môn đối với phần đất thế chấp thì hiện nay đất trống, hiện trạng đất không có gf thay đổi so với thời điểm thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022. Quá trình giải quyết vụ án, bà T1 đến Tòa án làm việc và đồng ý thanh toán khoản vay theo yêu cầu của O nhưng xin được giảm lãi suất vay. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã đã thực hiện đầy đủ các biện pháp tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với bị đơn ông Nguyễn Đức A nhưng ông A không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Do dó, việc Ngân hàng T3 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nếu ông A, bà T1 không trả được nợ cho Ngân hàng là có cơ sở nên cần được chấp nhận.

Do đó, Viện KSND Thành phố B đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T3:

Buộc bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T3 theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 đã ký với Ngân hàng tạm tính đến ngày 18/10/2024 như sau:

  • - Nợ gốc: 1.710.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm mười triệu đồng);
  • - Nợ lãi: 139.733.754 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu bẩy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng);
  • - Lãi trên gốc quá hạn: 3.539.589 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng);
  • - Phạt trên lãi chậm trả: 5.586.255 đồng (Năm triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng);

Tổng cộng: 1.858.859.598 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm chín mươi tám đồng).

Ngân hàng được quyền tiếp tục tính lãi, phạt theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 kể từ ngày 19/10/2024 cho đến ngày bà T1, ông A thanh toán toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ vay, ông A và bà T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

2. Về án phí dân sơ thẩm và chi phí tố tụng khác: ông Nguyễn Đức A, bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ngân hàng T3 (O) yêu cầu ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 trả số tiền chưa thanh toán trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng T3 (O) là nguyên đơn, ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh T1 ông Nguyễn Đức A đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T1, ông A theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về việc giải quyết vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:

Yêu cầu ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 thanh toán cho O số tiền tạm tính đến ngày 18/10/2024 là 1.858.859.598 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: nợ gốc là 1.710.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm mười triệu đồng), nợ lãi là 139.733.754 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu bẩy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng), lãi trên gốc quá hạn: 3.539.589 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng), phạt trên lãi chậm trả: 5.586.255 đồng (Năm triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 19/10/2024, ông A, bà T1 còn phải thanh toán cho O tiền lãi, phạt theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 cho đến ngày bà T1, ông A thanh toán toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng. Về tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022 đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1. Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông A và bà T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 12/10/2022, Ngân hàng T3 (O) và ông A, bà T1 ký kết hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI (Bút lục số 27 – 33).

Về số tiền vay, mục đích vay và lãi suất của hợp đồng nêu trên như đại diện nguyên đơn và bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh T1 trình bày.

Theo đơn khởi kiện Ngân hàng O trình bày: Từ khi vay đến ngày 15/4/2024, ông A, bà T1 thanh toán được cho Ngân hàng O số tiền nợ gốc 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng). Ông A, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng O từ ngày 06/02/2024.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh T1 đã đến Tòa án làm việc vào ngày 26/7/2024 và trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà T1 xác định có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng O, đã thanh toán cho Ngân hàng O 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) tiền nợ gốc. Bà T1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu vợ chồng bà thanh toán tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi và phí phạt chậm trả tính đến ngày 25/7/2024 là 1.807.934.809 đồng (Một tỷ tám trăm lẻ bảy triệu chín trăm ba mươi tư nghìn tám trăm lẻ chín đồng). Tuy nhiên, bà T1 xin được gia hạn thêm thời gian thanh toán khoản vay và xin Ngân hàng xem xét giảm lãi suất khoản vay do tình hình kinh tế gặp khó khăn (bút lục 105).

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức A không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở xác định việc ông A, bà T1 có ký kết hợp đồng số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 vay của Ngân hàng T3 số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng), thế chấp Quyền sử dụng đất của thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022 là có thật. Quá trình vay bà T1, ông A đã trả được 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) tiền nợ gốc và vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 06/02/2024.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A thanh toán cho Ngân hàng T3 số tiền tạm tính đến ngày 18/10/2024 là 1.858.859.598 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm chín mươi tám đồng). Cụ thể như sau:

  • - Nợ gốc: 1.710.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm mười triệu đồng);
  • - Nợ lãi: 139.733.754 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu bẩy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng);
  • - Lãi trên gốc quá hạn: 3.539.589 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng);
  • - Phạt trên lãi chậm trả: 5.586.255 đồng (Năm triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng);

Ngân hàng được quyền tiếp tục tính lãi, phạt theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 kể từ ngày 19/10/2024 cho đến khi bà T1, ông A thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ánh T1 và ông Nguyễn Đức A không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý theo quy định của pháp luật đối với tài sản bảo đảm là thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 12/10/2022 để thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông A và bà T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu theo quy định.

[7] Về án phí: ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 220, Điều 227, Điều 228 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T3 (O).

Buộc ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 trả cho Ngân hàng T3 (O) số tiền tạm tính đến ngày 18/10/2024 là 1.858.859.598 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: nợ gốc là 1.710.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm mười triệu đồng); nợ lãi là 139.733.754 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu bẩy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng); lãi trên gốc quá hạn: 3.539.589 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng); phạt trên lãi chậm trả: 5.586.255 đồng (Năm triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 19/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay, ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng T3 (O) tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 0271/2022-HĐCV/OCEANBANK.DONGNAI ngày 12/10/2022 các bên đã ký kết.

Trường hợp ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nêu trên cho Ngân hàng T3 (O), Ngân hàng T3 (O) được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý theo quy định đối với tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 5697, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 298994 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Ánh T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 0023/2022/HĐTCBTB/OJBĐNai-KHCN ngày 12/10/2022, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 12/10/2022 để thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông A và bà T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

2. Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu theo quy định.

Do nguyên đơn đã tạm nộp nên ông A và bà T1 có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho Ngân hàng T3.

3. Về án phí:

3.1 Ông Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu 67.765.788 đồng (Sáu mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.2 Hoàn trả cho Ngân hàng T3 số tiền 32.527.687 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004374 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Ngân hàng T3 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh T1, ông Nguyễn Đức A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị P

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS nhân dân T4;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/DSST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 233/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Đại Dương tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Thị Ánh Tuyết-Nguyễn Đức An
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger