TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 233/2024/DS-PT
Ngày 26 tháng 9 năm 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất; bồi thường thiệt hại về
tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Huỳnh Thanh Tâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng;
Bà Trịnh Ngọc Thúy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; bồi thường thiệt hại về tài sản”;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2023/QĐXX-PT ngày 16 tháng 8 năm 2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 132/TB-TA ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Phong P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- - Bà Lê Kiều D, sinh năm 1983; nơi cư trú: số H, Thủ Khoa N, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 23/8/2023) (có mặt).
- - Ông Lê Thành T, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, (theo giấy ủy quyền ngày 06/9/2023), (có mặt).
- Bị đơn: Ông Mai Chí B, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3. Người kháng cáo: Ông Lâm Phong P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, do bà Lê Kiều D và ông Lê Thành T đại diện theo ủy quyền (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Lê Thành T trình bày:
Vào năm 2002 ông Lâm Văn S (cha của ông Lâm Phong P) có cho ông P phần đất nông nghiệp tọa lạc tại xã L, huyện T, diện tích 29.824m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01320/lI do UBND huyện T cấp ngày 05/8/2002 cho ông P đứng tên. Đến năm 2015 ông B canh tác đất liền kề với ông P đã phá bờ ranh giữa 02 thửa đất nên phát sinh tranh chấp. Tại đơn khởi kiện ngày 09/12/2020 ông P khởi kiện tranh chấp với ông B diện tích khoảng 500m² đất chưa đo đạc thực tế và yêu cầu bồi thường thiệt hại 6 năm là 6.000.000 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý và đo đạc thực tế xác định vị trí, diện tích hai bên tranh chấp 642m². Ngày 27/7/2022 ông P làm đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện buộc ông B trả diện tích đã lấn chiếm 642m². Đồng thời, bồi thường tiền mất thu nhập từ năm 2015 - 2022 (07 năm) là 7.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Mai Chí B không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án không thu thập được lời khai và ông B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Phong P về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Mai Chí B diện tích đất 642m².
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Phong P về yêu cầu bồi thường mất thu nhập do đất bị lấn chiếm đối với ông Mai Chí B số tiền 7.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 27/6/2023, ông Lâm Phong P kháng cáo, không thống nhất với bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông B trả lại diện tích đất 642 m², buộc ông B chịu chi phí tố tụng; đồng ý rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông B bồi thường thiệt hại số tiền 7.000.000 đồng do sử dụng đất lấn chiếm.
- Bị đơn ông Mai Chí B vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm. Buộc ông B trả lại cho ông P diện tích đất đã sử dụng lấn chiếm là 642m²; căn cứ Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 7.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn ông P kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Bị đơn ông Mai Chí B đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt đối với ông Mai Chí B.
[2] Về nội dung:
Ông Lâm Phong P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01320.QSDĐ/lI do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 05/8/2002, diện tích 29.824m², thửa 742, 743, 744, 745, 748, 749, 750, 751, 752, tờ bản đồ số 3, tại xã L, huyện T. Nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng từ cha là ông Lâm Văn S vào ngày 05/8/2002. Đến năm 2015, ông P phát hiện ông Mai Chí B phá bờ ranh, đắp lại bờ ranh khác lấn sang đất ông P nên phát sinh tranh chấp.
Ông P cho rằng, diện tích đất ông B sử dụng lấn chiếm thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông P đứng tên, theo kết quả đo đạc là 642m², nên yêu cầu ông B trả lại đất lấn chiếm và bồi thường thiệt hại theo giá cho thuê đất từ năm 2015 đến năm 2022, số tiền 7.000.000 đồng.
Căn cứ vào kết quả đo đạc theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh T1 ngày 20/7/2021 thì diện tích đất tranh chấp 642m² theo các điểm 5, 6, 7, 8 là thửa tạm 1, tờ bản đồ số 35.
Tại Công văn số 1055/CNTT-KT ngày 18/4/2022 của Văn phòng Đ chi nhánh T1 xác định diện tích đất 642 m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai.
Tại công văn số 90/UBND-NC ngày 09/01/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T xác định diện tích đất 642m² theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/7/2021 do Văn phòng Đ chi nhánh T1 lập hiện do ông Mai Chí B canh tác, không phải đất do Nhà nước quản lý.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ xác định vị trí đất tranh chấp, kết quả cung cấp thông tin của những người làm chứng xác định diện tích đất tranh chấp 642 m² hiện do ông Mai Chí B canh tác, cán bộ địa chính xã L, huyện T cũng xác định Ủy ban nhân dân xã chưa xem xét cấp diện tích đất tranh chấp 642 m² cho bất cứ ai.
Căn cứ vào kết quả đo đạc đất tranh chấp và văn bản trả lời cung cấp thông tin của Văn phòng đăng ký đất và Ủy ban nhân dân huyện T, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng tranh chấp là diện tích đất 642 m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thuộc quyền sử dụng đất của ông Lâm Phong P nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông B trả đất và bồi thường thiệt hại.
Về phía bị đơn vắng mặt suốt quá trình tố tụng, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Phong P, thấy rằng, tại cấp phúc thẩm, đại diện nguyên đơn cung cấp bản sao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lâm Văn S và Lâm Phong P thể hiện diện tích đất ông Lâm Phong P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 29.824m² tại các thửa 742, 743, 744, 745, 748, 749, 750, 751, 752, tờ bản đồ số 3. Đồng thời, phía nguyên đơn còn cung cấp bản sao 02 Biên nhận đăng ký quyền sử dụng đất ngày 04/8/2016. Trong đó:
- - Biên nhận ghi tên người sử dụng đất là Lâm Phong P có nội dung: Diện tích Loại đất và Hạng đất theo Bảng kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng như sau: 35/122 13935 LUC; 35/129 11635 LUC; 35/127 5349 LUC;
- - Biên nhận ghi tên người sử dụng đất là Lâm Văn S có nội dung: Diện tích Loại đất và Hạng đất theo Bảng kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng như sau: 35/128 7260 LUC; 35/130 17489 LUC; 35/154 9020 LUC.
Theo nguyên đơn trình bày năm 2016, thực hiện chủ trương đo đạc lại quyền sử dụng đất, các thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông P và ông S được đo đạc lại thể hiện trên hệ thống bản đồ mới theo số thửa mới, thuộc tờ bản đồ số 35. Trong đó, thửa 154 diện tích 9.020 m² do ông P đăng ký nhưng Biên nhận ghi nhầm tên người đăng ký là ông Lâm Văn S (cha ông P).
Qua xem xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, nhận thấy, Biên nhận đăng ký quyền sử dụng đất ngày 04/8/2016 thì thửa 154, tờ bản đồ số 35 có diện tích là 9.020 m². Đối chiếu với bản trích đo hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tri Tôn ngày 20/7/2021 thì thửa 154 có diện tích 8.378 m², chênh lệch thiếu so với Biên nhận đăng ký quyền sử dụng đất ngày 04/8/2016 là 642m². Trong khi đó, thửa tạm 1 liền kề với thửa 154 có diện tích 642 m².
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm -Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thể hiện tại Công văn số 5308/CNTT-KT ngày 18/9/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh T1 về việc trả lời Công văn số 1127/TA-DS ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xác định: “tại các điểm 5, 6, 7, 8 gốc ranh thửa tạm 1, tờ bản đồ số 35 có diện tích 642 m² là phần đất đang tranh chấp thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01320 QSDĐ/iI ngày 05/8/2002 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Phong P”.
Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 642 m² được thể hiện trên bản trích đo hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tri Tôn ngày 20/7/2021 là thuộc thửa 154 (diện tích 9.020 m²) thuộc tờ bản đồ số 35, đã được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Biên nhận ngày 04/8/2016, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay cơ quan có thẩm quyền chưa cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất theo tờ bản đồ số 35. Do đó, chưa được thể hiện trên Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/7/2021 của Văn phòng Đ chi nhánh T1 và Công văn số 1055/CNTTKT ngày 18/4/2022 của Văn phòng Đ chi nhánh T1.
Nội dung trả lời tại Công văn số 5308/CNTT-KT ngày 18/9/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh T1 là phù hợp với lời khai của phía nguyên đơn, đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông P. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm xác định đất tranh chấp hiện do bị đơn là ông Mai Chí B đang quản lý, sử dụng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 166 Luật đất đai năm 2013, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất sử dụng lấn chiếm là có căn cứ. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc ông B trả lại cho ông P diện tích đất 642m² qua các điểm 5, 6, 7, 8 (thửa tạm 1) theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/7/2021 của Văn phòng Đ chi nhánh T1,
Đối với yêu cầu kháng cáo của ông P về việc buộc ông B bồi thường thiệt hại do hành vi lấn chiếm đất từ năm 2015 đến năm 2022, mỗi năm 1.000.000 đồng, số tiền 7.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý rút lại yêu cầu kháng cáo đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại. Căn cứ Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn. Phần quyết định của bản án sơ thẩm về giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông P sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên việc sửa bản án sơ thẩm không có lỗi của cấp sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp chi phí tố tụng, gồm: chi phí đo đạc: 12.780.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định, định giá: 1.300.000 đồng. Tổng cộng là: 14.080.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông P được chấp nhận nên ông B phải chịu toàn bộ chi phi tố tụng. Buộc ông B phải trả lại cho ông P chi phí tố tụng là 14.080.720 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông B phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 350.000 đồng (đối với yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho ông P tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 289; khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Phong P về việc yêu cầu ông Mai Chí B bồi thường thiệt hại, số tiền 7.000.000 đồng.
Phần quyết định của bản án sơ thẩm về giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn có hiệu lực pháp luật.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Phong P;
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DSST ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Phong P.
- Buộc ông Mai Chí B có trách nhiệm trả lại ông Lâm Phong P diện tích đất 642m² qua các điểm 5, 6, 7, 8 (thửa tạm 1) theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 20/7/2021 của Văn phòng Đ chi nhánh T1.
- Về chi phí tố tụng: Ông Mai Chí B có trách nhiệm trả cho ông L Phong Phú chi phí đo đạc, thẩm định, định giá là 14.080.720 đồng (mười bốn triệu không trăm tám mươi nghìn bảy trăm hai mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Mai Chí B phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Ông Lâm Phong P phải chịu là 350.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai thu số 0000680 ngày 22/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn;
Hoàn trả lại cho ông P 250.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000680 ngày 22/12/2020 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002466 ngày 28/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lâm Phong P không phải chịu. Hoàn trả cho ông P 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0010161 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 233/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất; bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 233/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất; bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
